Đề thi chọn học sinh giỏi lớp 9 năm học 2014 - 2015 môn: Ngữ Văn

Câu 1: (4 điểm)

Cảm nhận của em về những câu thơ sau:

“Câu hát căng buồm với gió khơi

 Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời

Mặt trời đội biển nhô màu mới

 Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi.”

( Trích “Đoàn thuyền đánh cá” của Huy Cận).

Câu 2: (4 điểm)

Đọc câu chuyện sau:

Vết nứt và con kiến

 Khi ngồi ở bậc thềm nhà, tôi thấy một con kiến đang tha chiếc lá trên lưng. Chiếc lá lớn hơn con kiến gấp nhiều lần.

 Bò được một lúc, con kiến chạm phải một vết nứt khá lớn trên nền xi măng. Nó dừng lại giây lát. Tôi nghĩ con kiến hoặc là quay lại, hoặc là nó sẽ một mình bò qua vết nứt đó. Nhưng không. Con kiến đặt chiếc lá ngang qua vết nứt trước, sau đó đến lượt nó vượt qua bằng cách bò lên trên chiếc lá. Đến bờ bên kia, con kiến lại tha chiếc lá và tiếp tục cuộc hành trình.

 Hình ảnh đó bất chợt làm tôi nghĩ rằng tại sao mình không thể học loài kiến bé nhỏ kia, biến trở ngại, khó khăn của ngày hôm nay thành hành trang quý giá cho ngày mai tươi sáng hơn.

 

doc 6 trang Người đăng trung218 Ngày đăng 18/04/2017 Lượt xem 27Lượt tải 0 Download
Bạn đang xem tài liệu "Đề thi chọn học sinh giỏi lớp 9 năm học 2014 - 2015 môn: Ngữ Văn", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
PHÒNG GD&ĐT YÊN MĨ 
ĐỀ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI LỚP 9 NĂM HỌC 2014 - 2015
ĐỀ CHÍNH THỨC
Môn: Ngữ văn
Thời gian: 120 phút (không kể thời gian giao đề)
Đề thi gồm có: 01 trang
Câu 1: (4 điểm)
Cảm nhận của em về những câu thơ sau:
“Câu hát căng buồm với gió khơi
 Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời
Mặt trời đội biển nhô màu mới
 Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi.”
( Trích “Đoàn thuyền đánh cá” của Huy Cận).
Câu 2: (4 điểm)
Đọc câu chuyện sau: 
Vết nứt và con kiến
 Khi ngồi ở bậc thềm nhà, tôi thấy một con kiến đang tha chiếc lá trên lưng. Chiếc lá lớn hơn con kiến gấp nhiều lần.
 Bò được một lúc, con kiến chạm phải một vết nứt khá lớn trên nền xi măng. Nó dừng lại giây lát. Tôi nghĩ con kiến hoặc là quay lại, hoặc là nó sẽ một mình bò qua vết nứt đó. Nhưng không. Con kiến đặt chiếc lá ngang qua vết nứt trước, sau đó đến lượt nó vượt qua bằng cách bò lên trên chiếc lá. Đến bờ bên kia, con kiến lại tha chiếc lá và tiếp tục cuộc hành trình.
 Hình ảnh đó bất chợt làm tôi nghĩ rằng tại sao mình không thể học loài kiến bé nhỏ kia, biến trở ngại, khó khăn của ngày hôm nay thành hành trang quý giá cho ngày mai tươi sáng hơn.
 ( Hạt giống tâm hồn 5- Ý nghĩa cuộc sống, NXB Tổng hợp TP. HCM)
 Hãy nêu suy nghĩ của em về ý nghĩa của câu chuyện trên và rút ra bài học cho bản thân.
Câu 3: (12 điểm)
Có ý kiến cho rằng: "Từ một câu chuyện riêng, bài thơ “Ánh trăng” của Nguyễn Duy cất lên lời tự nhắc nhở thấm thía về thái độ, tình cảm của con người đối với những năm tháng quá khứ gian lao, tình nghĩa, đối với thiên nhiên, đất nước bình dị, hiền hậu"
Hãy bình luận ý kiến trên.
PHÒNG GD&ĐT YÊN MĨ
HƯỚNG DẪN CHẤM THI CHỌN HỌC SINH GIỎI LỚP 9 
NĂM HỌC 2014 - 2015.
Môn: Ngữ văn
Câu 1: ( 4.0 điểm)
Yêu cầu về nội dung: ( 3.0 điểm)
- HS nắm được nội dung của đoạn thơ ( 1.0 điểm, mỗi ý 0,5 điểm):
+ Hình ảnh đoàn thuyền đánh cá trở về lúc bình minh cũng là hình ảnh cuộc sống mới, con người lao động mới trong tư thế làm chủ và tràn đầy niềm lạc quan tin tưởng.
+ Niềm vui, tình yêu của tác giả với con người, thiên nhiên, cuộc sống.
- HS chỉ ra các biện pháp được sử dụng trong đoạn thơ và tác dụng của các biện pháp nghệ thuật trong đoạn thơ ( 2.0 điểm, mỗi ý 0,5 điểm): cảm hứng lãng mạn, hình ảnh tráng lệ, âm hưởng khỏe khoắn, sôi nổi, biện pháp lặp cấu trúc, hoán dụ, ẩn dụ, nhân hóa, khoa trương đặc sắc.
+ Ẩn dụ: Câu hát căng buồm Þ Biến cái ảo thành cái thực Þ Khí thế phơi phới, mạnh mẽ của đoàn thuyền và niềm vui, sức mạnh của người lao động trên biển, làm chủ cuộc đời, chinh phục biển khơi.
+ Hoán dụ: Đoàn thuyền Þ Người dân chài, Mắt cá huy hoàng Þ Muôn vàn mắt cá lấp lánh trong buổi bình minh Þ Buổi lao động trên biển đêm thật gian nan, vất vả nhưng kết quả trở về thắng lợi huy hoàng.
+ Nhân hóa, khoa trương: “Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời” Þ Sức dồi dào, vẫn hăng say mạnh mẽ sau một đêm lao động vất vả của người dân chài Þ Làm nổi bật tư thế của những con người lao động. Hình ảnh nhân hóa“ Mặt trời đội biển” đi lên mở ra một ngày mới tốt đẹp hơn, ánh sáng của mặt trời không chỉ mang đến màu cảnh vật mà còn mang “màu mới” cho cuộc sống mà những người lao động mới đang từng ngày, từng giờ cống hiến.
+ Cảm hứng lãng mạn: hình ảnh kỳ vĩ của thiên nhiên, bay bổng, biểu hiện niềm vui hào hứng của con người làm chủ biển trời quê hương. Âm điệu thơ hào hùng như bài ca ca ngợi cuộc sống, con người. Lặp cấu trúc với câu cuối của khổ thơ đầu, tạo sự hô ứng Þ Như một điệp khúc ngân nga, nhấn mạnh niềm vui lao động làm giàu đẹp quê hương.
Yêu cầu về hình thức: ( 1.0 điểm)
- Bài viết có bố cục rõ ràng (đây là một bài viết ngắn). Đảm bảo sự phân tích chặt chẽ trong bài viết, không mắc lỗi từ, câu, cách diễn đạt.
* Biểu điểm:
Điểm 3,5- 4: Đáp ứng tất các yêu cầu trên, không mắc lỗi
Điểm 2,5- 3: Đáp ứng 2/3 yêu cầu, còn mắc một số lỗi.
Điểm 1,5- 2: Đạt 1/2 yêu cầu, còn mắc một số lỗi diễn đạt.
Điểm 0,5- 1: Đạt dưới 1/2 yêu cầu, mắc nhiều lỗi.
Câu 2: (4.0 điểm) 
Đây là dạng đề mở nên cần khuyến khích những ý tưởng sáng tạo khi bày tỏ những ý nghĩa khác từ câu chuyện gợi ra. Song khi bày tỏ những ý kiến đó phải có cách lí giải hợp lí, thuyết phục, lập luận chặt chẽ.
1. Về nội dung: Cần đáp ứng một số ý sau:
 a. Giải thích ý nghĩa câu chuyện: (0,5 điểm)
 Từ ý nghĩa câu chuyện “ Vết nứt và con kiến” rút ra vấn đề nghị luận: con người cần phải biết biến những khó khăn trở ngại trở ngại trong cuộc sống thành hành trang quý giá cho ngày mai.
 b. Bàn bạc- đánh giá – chứng minh (2.0 điểm)
 - Tóm tắt khái quát được vấn đề từ câu chuyện: cần kiên trì, bền bỉ, sáng tạo vượt qua những trở ngại, những áp lực, thách thức trong cuộc sống và biến nó thành những trải nghiệm thú vị, vô giá cho chính bản thân con người.
 - HS làm rõ các ý:
+ Trên đường đời, con người luôn gặp những khó khăn, trở ngại, thử thách. Đây là một tất yếu của cuộc sống.
+ Thái độ và hành động của con người: tìm những cách thức, biện pháp cụ thể để vượt qua nó hay né tránh, bỏ cuộc( dẫn chứng cụ thể).
+ Lựa chọn đối mặt với khó khăn, thử thách và vượt qua nó là một lựa chọn đúng đắn, cần thiết, để nó thành hành trang quý giá cho tương lai( dẫn chứng cụ thể).
- Phê phán những thái độ và hành động sai: bi quan, chán nản, than vãn, bỏ cuộc,
 c. Bài học được rút ra: (0,5 điểm)
-Trong cuộc đời ta sẽ gặp phải nhiều trở ngại, hãy nỗ lực sáng tạo và vươn lên.
- Củng cố thái độ, hành động đúng cho bản thân và kêu gọi cộng đồng: rèn luyện sự
quyết tâm, kiên trì, sự sáng tạo, niềm tin, hi vọng, lạc quan, trong khi giải quyết các vấn đề khó khăn trong cuộc sống.
2. Về hình thức: ( 1,0 điểm)
 Học sinh biết cách làm kiểu bài nghị luận. Bài viết có bố cục chặt chẽ. Biết vận dụng nhuần nhuyễn các thao tác lập luận phù hợp.
Biểu điểm:
Điểm 3,5- 4: Hiểu rõ yêu cầu của đề bài, đảm bảo các yêu cầu về kĩ năng và kiến thức, có lập luận chặt chẽ, có sự kết hợp nhuần nhuyễn các thao tác lập luận, bài viết có cảm xúc, diễn đạt lưu loát.
Điểm 2,5- 3: Hiểu rõ yêu cầu của đề bài, đáp ứng hầu hết các yêu cầu về kĩ năng và kiến thức, có lập luận tương đối chặt chẽ, có sự vận dụng thành công các thao tác lập luận, diễn đạt tương đối tốt.
Điểm 1,5- 2: Hiểu yêu cầu của đề bài, đáp ứng được cơ bản các yêu cầu về kĩ năng và kiến thức, lập luận chưa chăt chẽ, có thể còn một số lỗi nhỏ về diễn đạt.
Điểm 0,5- 1: Chưa nắm vững yêu cầu của đề bài, chưa đáp ứng được ½ yêu cầu về kĩ năng và kiến thức, mắc lỗi chính tả và diễn đạt.
Điểm 0: để giấy trắng.
Câu 3: ( 12 điểm ) 
Bài viết đảm bảo các yêu cầu sau: 
 *Yêu cầu về kỹ năng:
 - Biết cách làm bài văn nghị luận văn học về tác phẩm thơ.
 - Kết cấu chặt chẽ bố cục ba phần rõ ràng, diễn đạt lưu loát, trình bày sạch sẽ, không mắc lỗi về từ, câu, lỗi chính tả.
Viết bài văn hoàn chỉnh, đúng thể loại.
 Biết trình bày dẫn chứng hợp lý, khoa học
* Yêu cầu về nội dung: 
Bài viết có thể trình bày theo những cách khác nhau nhưng đảm bảo các ý cơ bản sau
a. Mở bài: Giới thiệu tác giả ( Nguyễn Duy thuộc thế hệ nhà thơ quân đội...), tác phẩm ( hoàn cảnh sáng tác, tư tưởng chủ đề...) và ý kiến nêu trong đề bài. ( 1 điểm)
b. Thân bài: ( 8 điểm)
- Giải thích ý kiến: ( 2 điểm, mỗi ý 1 điểm)
+ Bài thơ mang dáng dấp một câu chuyện riêng - tứ thơ gói ghém một câu chuyện trong cuộc đời người lính trở về sau chiến tranh - người đã từng gắn bó với vầng trăng từ thuở nhỏ qua thời đi bộ đội; đến khi về sống ở thành phố "quen ánh điện cửa gương" thì " vầng trăng đi qua ngõ - như người dưng qua đường". Rồi một lần " Thình lình đèn điện tắt", trong phòng " tối om" nhà thơ " vội bật tung cửa sổ" để đột ngột thấy "vầng trăng tròn", từ đó bao cảm xúc và suy ngẫm của tác giả về những năm tháng gian lao, tình nghĩa đối với thiên nhiên, đất nước bình dị, hiền hậu,..chợt ùa đến. Ánh trăng trước hết là tiếng lòng, là suy ngẫm của riêng Nguyễn Duy.
+ Ý nghĩa khái quát của hình tượng thơ: từ hình ảnh cụ thể, từ tâm trạng riêng của cá nhân nhà thơ biểu lộ cái khái quát, cái chung trong triết lý về cuộc sống của con người: lời cảnh tỉnh, lời nhắc nhở sống ân nghĩa, thủy chung, nhớ về cội nguồn.
- Phân tích, chứng minh: ( 4 điểm, mỗi ý 1 điểm, đảm bảo phân tích cả nội dung và nghệ thuật khái quát của các đoạn thơ).
 	+ Được viết theo thể thơ 5 chữ mang giọng điệu tâm tình, theo dòng chảy thời gian, ba khổ thơ đầu là lời kể với nhịp thơ trôi chảy tự nhiên về mối quan hệ gắn bó, thân thiết như tình bạn tri kỉ giữa nhà thơ và vầng trăng trong quãng đời từ thơ ấu đến thời gian đi bộ đội, sống và chiến đấu nơi rừng núi. Quan hệ đó tự nhiên mà gần gũi đến nỗi gần như đi đâu, làm gì cũng có nhau và có lẽ nhà thơ không bao giờ nghĩ rằng sẽ có lúc mình quên người bạn tri kỉ, tình nghĩa ấy. Đó là quãng đời "trần trụi ", hồn nhiên, chân thật nhất; dẫu thiếu thốn, gian khổ nhưng không thiếu niềm vui, hạnh phúc. Vầng trăng có ý nghĩa biểu tượng cho quá khứ nghĩa tình, ch vẻ đẹp bình dị và vĩnh hằng của cuộc sống.
 Vậy mà, cũng rất tự nhiên, anh lại có thể coi người bạn trăng tình nghĩa thuở nào " như người dưng qua đường". Vì sao lại như vậy? Vì hoàn cảnh sống thay đổi... vầng trăng vẫn đi qua phố, qua ngõ nhưng nhà thơ không còn nhớ đến vầng trăng.
 Ý nghĩa của lời kể sâu, rộng hơn nhiều so với chi tiết thật của câu chuyện. Đó là khi người ta thay đổi hoàn cảnh sống thì có thể dễ dàng lãng quên quá khứ, nhất là quá khứ nhọc nhằn, gian khổ. Trước vinh hoa phú quý, người ta cũng có thể phản bội lại chính mình, thay đổi tình cảm với những chuyện tưởng chừng không bao giờ có thể lãng quên.
+ Khổ 4: Tình huống mất điện đột ngột trong đêm - một câu chuyện không hiếm gặp ở nước ta trong thời điểm tác giả viết Ánh trăng là chi tiết ẩn dụ mang tính biểu tượng cao về những thăng trầm của cuộc sống. Vốn đã quen với ánh sáng ( cuộc sống sung sướng)- không thể chịu cảnh tối om ( cuộc sống thiếu thốn, khó khăn). Ba từ vội, bật, tung đặt liền nhau cho thấy sự khó chịu và hành động khẩn trương, hối hả tìm nguồn sáng. Và đột ngột vầng trăng tròn xuất hiện. Ngửa mặt lên nhìn trời, nhìn trăng... Tình huống đó như một cái cớ khơi gợi tâm trạng và suy ngẫm của tác giả. Giọng thơ đột ngột cất cao với bước ngoặt của sự việc.
+ Hai khổ thơ cuối: "Ngửa mặt lên nhìn mặt" -> nghệ thuật nhân hóa diễn tả tư thế tập trung chú ý, mặt đối mặt, cảm xúc dâng trào. Tác giả không cụ thể, trực tiếp mà dùng phép so sánh, điệp từ, từ ngữ có cái gì rưng rưng...cùng giọng thơ tha thiết trầm lắng cùng xúc cảm và sự suy tư trầm lắng diễn tả sự xúc động trào dâng khi gặp lại vầng trăng - người bạn tri kỉ, tình nghĩa mà mình từng quên lãng, gợi quá khứ ùa về....
 + Phân tích nghĩa của hình ảnh vầng trăng " tròn vành vạnh", " im phăng phắc"; cái " giật mình". Hình ảnh thơ mang hàm nghĩa độc đáo, đưa tới chiều sâu tư tưởng triết lí: " tròn vành vạnh" - một vẻ đẹp viên mãn, trăng vẫn thế, vẫn thủy chung, tình nghĩa. Chỉ có lòng người thay đổi “vô tình”. " Ánh trăng im phăng phắc": vầng trăng cứ tròn đầy và lặng lẽ sáng nhưng mang ý nghĩa nhắc nhở nghiêm khắc, đủ để con người “giật mình” biết tự vấn lương tâm, biết suy nghĩ để nhận ra sự vô tình, bạc bẽo, nông nổi trong cách sống của mình. Cái giật mình tự nhắc nhở bản thân về lòng ân nghĩa, thủy chung, độ lượng, không bao giờ được làm kẻ phản bội quá khứ.
Những chữ đầu dòng không viết hoa nhằm biểu hiện sự liền mạch về ý tưởng và hình ảnh trong từng đoạn thơ và cả bài thơ.
	Kết cấu, giọng điệu của bài thơ có tác dụng làm nổi bật chủ đề, tạo nên tính chân thực, sức truyền cảm sâu sắc cho tác phẩm, gây ấn tượng mạnh ở người đọc.
- Bình luận: (2 điểm, mỗi ý 1 điểm). 
Đúng như ý kiến đã nêu trong đề bài, từ một câu chuyện riêng, bài thơ Ánh trăng ( Nguyễn Duy) là lời nhắc nhở thấm thía về thái độ, tình cảm với những năm tháng quá khứ gian lao, tình nghĩa; đối với thiên nhiên, đất nước, bình dị, hiền hậu. Bài thơ không chỉ là câu chuyện riêng của Nguyễn Duy mà còn có ý nghĩa đối với cả một thế hệ đã trải qua những năm tháng gian khổ trong chiến tranh, từng gắn bó với thiên nhiên, với nhân dân... nay được sống trong hòa bình và tiếp xúc với nhiều tiện nghi hiện đại văn minh.
Bài thơ càng có ý nghĩa trong cuộc sống hiện nay, khi con người phải đối diện với nhiều thách thức, với nhiều giá trị mới. Bài thơ có ý nghĩa với nhiều người bởi nó đặt ra vấn đề thái độ sống đối với quá khứ, với người đã khuất, với cả chính mình khi hoàn cảnh sống thay đổi. Bài thơ nằm trong mạch cảm xúc " uống nước nhớ nguồn", gợi lên đạo lí tình nghĩa thủy chung - một truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.
c. Kết bài (1 điểm): Nêu cảm xúc, ấn tượng sâu sắc nhất về bài thơ hoặc rút ra bài học sâu sắc cho bản thân sau khi học bài thơ.
Biểu điểm cụ thể:
 - Điểm 10,5- 12: Đáp ứng tốt các yêu cầu trên, tỏ ra sắc sảo khi có những ý kiến riêng về vấn đề nêu ở đề bài, diễn đạt lưu loát, văn viết giàu cảm xúc, sáng tạo. 
 - Điểm 7,5 - 10: Đáp ứng phần lớn các yêu cầu trên, diễn đạt khá tốt, văn viết mạch lạc, trong sáng, còn một vài sai sót về ngữ pháp, chính tả.
 - Điểm 5 - 7: Hiểu và nắm được yêu cầu của đề, bố cục mạch lạc, văn viết có cảm xúc, còn một vài sai sót về diễn đạt, trình bày.
 - Điểm 3 – 4,5: Hiểu đề song nội dung còn sơ sài, giải quyết vấn đề còn lúng túng, không lamfnooir bật được trọng tâm, diễn đạt lủng củng.
 - Điểm 1 – 2,5: Không nắm vững yêu cầu của đề, bài làm sơ sài, mắc nhiều lỗi chính tả, diễn đạt, trình bày.
 - Điểm 0: Hoàn toàn lạc đề, diễn đạt kém hoặc bỏ giấy trắng.
Chú ý: Giáo viên chấm cần linh hoạt, đề cao sự sáng tạo và chất văn riêng của học sinh
Hết -

Tài liệu đính kèm:

  • docsang_kien_kinh_nghiem.doc