Giáo án Lịch sử - Chương 3: Xây dựng đất nước định hướng xã hội chủ nghĩa từ 1975 đến nay

Chương 3

XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

TỪ 1975 ĐẾN NAY

3.1. Việt Nam trong năm đầu sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mĩ (1975-1976)

3.1.1. Tình hình 2 miền Nam-Bắc nước ta sau năm 1975

- Miền Bắc trải qua hơn hai chục năm tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa (1954-1975), nhưng phải hai lần đương đầu với cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mĩ hết sức ác liệt, chiến tranh đã tàn phá nặng nề, gây hậu quả lâu dài đối với miền Bắc, “đã làm cho quá trình tiến lên sản xuất lớn bị chậm lại vài ba kế họach 5 năm”.

+ Chế độ mới, quan hệ sản xuất mới, lực lượng sản xuất được xây dựng và củng cố không ngừng, tuy nhiên cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội miền Bắc còn rất nhỏ bé, năng suất lao động thấp, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn.

- Miền Nam đã hoàn toàn giải phóng, bộ máy ngụy quyền tay sai ở trung ương bị sụp đổ, nhưng cơ sở ngụy quyền tay sai ở địa phương vẫn tồn tại. Chế độ thực dân mới của Mĩ đã bị đánh đổ, nhưng đã để lại bao di chứng xã hội như xì ke, ma túy, lưu manh, bụi đời, đĩ điếm.

+ Hơn hai chục năm là xã hội thuộc địa kiểu mới của Mĩ, miền Nam có nền kinh tế trong chừng mực nhất định phát triển theo hướng tư bản chủ nghĩa, nhưng vẫn mang tính chất của nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, sản xuất nhỏ là phổ biến, phát triển mất cân đối, lệ thuộc nặng vào viện trợ từ bên ngoài. Công nghiệp nặng nhỏ bé, cơ sở vật chất - kỹ thuật không nhiều, không đều.

3.1.2. Khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục kinh tế, ổn định tình hình miền Nam

- Miền Bắc khôi phục kinh tế, khắc phục hậu quả chiến tranh

+ Ở miền Bắc, tuy chiến tranh đã chấm dứt sau Hiệp định Pari 1973 nhưng do sức tàn phá nặng nề của 2 lần chiến tranh phá hoại do Mĩ gây ra nên nhiệm vụ khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục kinh tế vẫn tiếp tục tiến hành. Mặc dù thời tiết thất thường, thiên tai dồn dập, miền Bắc vẫn giành được vụ đông xuân 1975-1976 khá tốt. Nhiều công trình, nhà máy được xây dựng và mở rộng thêm. Sản lượng phần lớn các sản phẩm quan trọng đạt và vượt mức trước chiến tranh. Sự nghiệp giáo dục, y tế, văn hóa, nghệ thuật phát triển mạnh.

 

doc 16 trang Người đăng minhkhang45 Ngày đăng 09/03/2020 Lượt xem 239Lượt tải 0 Download
Bạn đang xem tài liệu "Giáo án Lịch sử - Chương 3: Xây dựng đất nước định hướng xã hội chủ nghĩa từ 1975 đến nay", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
à các hàng tiêu dùng thiết yếu khác đều thiếu. Đời sống nhân dân lao động còn nhiều khó khăn. Trong đời sống kinh tế, văn hóa, trong nếp sống xã hội có những biểu hiện tiêu cực kéo dài.
- Thực trạng kinh tế - xã hội nước ta giai đoạn 1976-1980 bên cạnh yếu tố khách quan là hết sức to lớn còn do “Khuyết điểm, sai lầm của các cơ quan Đảng và Nhà nước từ trung ương đến cơ sở về lãnh đạo và quản lý kinh tế, quản lý xã hội”.
3.2.2. Thực hiện kế hoạch Nhà nước 5 năm (1981-1985)
- Đại hội V của Đảng (3-1982)
+ Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng Cộng sản Việt Nam họp từ 27 đến 31-3-1982 tại Hà Nội. Đồng chí Lê Duẩn được bầu lại làm Tổng bí thư (tháng 7-1986, đồng chí từ trần, đồng chí Trường Chinh lên thay).
+ Xuất phát từ đặc điểm tình hình trong nước và thế giới có thay đổi to lớn Đảng ta khẳng định: “Trong giai đoạn mới của cách mạng, toàn dân, toàn quân ta đoàn kết một lòng, ra sức phấn đấu làm hai nhiệm vụ chiến lược: một là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, hai là sẵn sàng chiến đấu bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”. Hai nhiệm vụ chiến lược đó được tiến hành đồng thời và quan hệ mật thiết với nhau. Đảng ta cũng khẳng định: “Trong khi không một phút lơi lỏng nhiệm vụ củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, Đảng ta và nhân dân ta đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội”.
+ Đại hội V khẳng định tiếp tục đường lối chung và đường lối xây dựng kinh tế xã hội chủ nghĩa trong thời kì quá độ do Đại hội IV đề ra. Tuy nhiên, đến Đại hội V đường lối xây dựng xã hội chủ nghĩa trong thời kì quá độ của Đảng bắt đầu có sự điều chỉnh, bổ sung, phát triển, cụ thể hóa cho từng chặng đường, từng giai đoạn phù hợp với những điều kiện lịch sử cụ thể. 
+ Đại hội xác định thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội của nước ta trải qua nhiều chặng. Chặng đường trước mắt (chặng đường đầu) gồm 5 năm đầu (1981-1985) và những năm còn lại của thập kỉ 80. Trong chặng đường đầu gồm 10 năm (1981-1990), cách mạng thực hiện những nhiệm vụ tổng quát: “Tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội, tăng cường hơn nữa sự nhất trí về chính trị và tinh thần của nhân dân, giảm bớt và khắc phục khó khăn, ổn định và cải thiện đời sống của nhân dân, chặn đứng và loại trừ các biểu hiện tiêu cực... đồng thời chuẩn bị cho những bước tiến vững chắc và mạnh mẽ hơn trong chặng đường tiếp theo”.
- Thực hiện những nhiệm vụ và mục tiêu của kế hoạch 5 năm (1981-1985) do Đại hội V của Đảng đề ra, nhân dân ta đạt được những thành tựu và tiến bộ quan trọng:
+ Trong sản xuất nông nghiệp và công nghiệp: đã chặn được đà giảm sút của những năm 1976-1980
1976 - 1980
1981 - 1985
Lương thực
13,4 triệu tấn
17 triệu tấn
Công nghiêp
Tăng 0,6%
9,5%
Thu nhập quốc dân
Tăng 0,4%
Tăng 6,4%
+ Về xây dựng cơ sở vật chất - kĩ thuật: trong 5 năm đã hoàn thành mấy trăm công trình tương đối lớn và hàng nghìn công trình vừa và nhỏ, trong đó có những cơ sở quan trọng về điện, dầu khí, xi măng, cơ khí, dệt, đường, thủy lợi, giao thông. Các công trình thủy điện Hòa Bình, Trị An đang được xây dựng, chuẩn bị đưa vào hoạt động trong những năm tới.
+ Trong cải tạo quan hệ sản xuất: đại bộ phận nông dân Nam Bộ đi vào con đường làm ăn tập thể, đồng bào các dân tộc Tây Nguyên có tiến bộ trong sự nghiệp xây dựng cuộc sống mới. Cùng với việc áp dụng những thành tựu về khoa học - kĩ thuật, việc thực hiện rộng rãi phương thức khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động, tuy chưa hoàn thiện và còn nhiều thiếu sót, nhưng đã góp phần quan trọng tạo nên một bước phát triển sản xuất nông nghiệp, mở ra phương hướng đúng đắn cho việc củng cố quan hệ kinh tế ở nông thôn.
+ Các ngành kinh tế quốc dân đã thu hút thêm 4 triệu lao động. Sự nghiệp văn hóa, giáo dục, y tế, thể dục thể thao, văn học, nghệ thuật phát triển và có những đóng góp nhất định vào việc xây dựng nền văn hóa mới, con người mới.
- Khó khăn yếu kém:
+ Trước hết là những khó khăn trên lĩnh vực kinh tế, xã hội: những khó khăn, yếu kém của thời kỳ trước không được hạn chế, khắc phục, thậm chí có mặt trầm trọng thêm. Hiệu quả sản xuất và đầu tư thấp, năng suất lao động giảm, chất lượng sản phẩm thấp kém.
+ Tài nguyên của đất nước chưa được khai thác tốt lại bị sử dụng lãng phí, nhất là đất nông nghiệp và tài nguyên rừng, môi trường sinh thái bị phá hoại. Lưu thông không thông suốt, phân phối rối ren, vật giá tăng nhanh tác động tiêu cực đến sản xuất, đời sống và xã hội.
+ Đời sống của nhân dân, nhất là công nhân viên chức còn nhiều khó khăn. Nhiều nhu cầu chính đáng tối thiểu của nhân dân về đời sống vật chất và tinh thần chưa được đảm bảo. Hiện tượng tiêu cực trong xã hội phát triển. Pháp luật, kỷ cương không nghiêm. Những hành vi lộng quyền, tham nhũng của một số cán bộ và nhân viên Nhà nước, những hoạt động của bọn làm ăn phi pháp chưa bị trừng trị nghiêm khắc và kịp thời.
3.2.3. Đấu tranh bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc (1975 - 1979)
- Cuộc chiến đấu chống Pôn Pốt - Iêngxary ở biên giới phía Tây Nam (12-1978)
+ Là một dân tộc chịu nhiều đau thương mất mát trong chiến tranh, khi đất nước được độc lập tự do, nhân dân ta mong muốn được sống trong hòa bình để xây dựng đất nước, được chung sống hòa bình với các dân tộc, nhưng thực tế lại không như vậy.
 Sẵn có âm mưu từ trước, tập đoàn phản động Pôn Pốt - Iêng xa ry - Khiêu Xam Phon, đại diện cho phái “Khơ me đỏ” lên nắm quyền ở Campuchia sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mĩ đã quay súng bắn lại nhân dân ta. Chúng cho rằng một nước Việt Nam thống nhất và hùng mạnh sẽ là cản trở cho chúng thực hiện những toan tính chính trị ở trong nước. Một mặt chúng cho quân khiêu khích dọc biên giới Việt Nam - Campuchia, mặt khác thực hiện chế độ chính trị tàn bạo ở trong nước (chế độ diệt chủng). 
+ Ngày 3-5-1975, Pôn Pốt cho quân đánh chiếm đảo Phú Quốc. Ngày 10-5-1975, tiếp tục cho quân đánh chiểm đảo Thổ Chu. Trong những ngày tiếp xâm phạm nhiều vùng lãnh thổ nước ta từ Hà Tiên đến Tây Ninh.
+ Từ tháng 4-1977, Pôn Pốt càng tăng cường các hành động lấn chiếm nước ta, chúng mở rộng dần thành cuộc chiến tranh quy mô lớn trên toàn tuyến biên giới Tây - Nam Việt Nam, quân dân ta buộc phải đánh lại chúng để tự vệ.
+ Giữa năm 1977, Pôn Pốt huy động lực lượng hàng sư đoàn tiến công vào nhiều xã biên giới thuộc tỉnh An Giang, chính thức mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Năm 1978, với thiện chí hòa bình, mong muốn chấm dứt xung đột bằng thương lượng, Đảng và Nhà nước ta đã chủ động đưa ra đề nghị đầy thiện chí nhằm chấm dứt các hành động quân sự thù địch dọc biên giới.
+ Ngày 22-12-1978, Pôn Pốt huy động 19/23 sư đoàn bộ binh cùng nhiều đơn vị pháo binh, xe tăng, tiến vào khu vực Bến Sỏi thuộc tỉnh Tây Ninh, bắt đầu cuộc tấn công lớn đánh chiếm thị xã Tây Ninh. Thực hiện quyền tự vệ chính đáng của mình, quân ta với một lực lượng lớn, với các binh khí kỹ thuật hiện đại đã tổ chức cuộc phản công và tiến công mạnh, tiêu diệt toàn bộ cánh quân xâm lược vừa tiến công vào nước ta. Tiếp đó phát triển cuộc tấn công tiêu diệt và làm tan rã đại bộ phận quân chủ lực của địch tại địa bàn chúng xuất phát hành quân gây tội ác.
+ Chiến thắng biên giới phía Tây Nam của nhân dân ta đã tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho cách mạng Campuchia giành thắng lợi. Dưới sự lãnh đạo của Mặt trận đoàn kết cứu nước, nhân dân Campuchia đã đồng loạt nổi dậy đập tan chính quyền phản động Pôn Pốt từ trung ương đến cơ sở. Ngày 7-1-1979, thủ đô Phnôm Pênh được giải phóng, nước Cộng hòa nhân dân Campuchia và Hội đồng cách mạng Campuchia tuyên bố thành lập.
- Chiến đấu chống bọn phản động Trung Quốc ở biên giới phía Bắc (2-1979)
+ Từ lâu, một số người lãnh đạo trong giới cầm quyền Bắc Kinh theo chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, muốn bành trướng thế lực. Việc một nước Việt Nam hùng mạnh, thống nhất ở phương Nam là một trở ngại đối với tham vọng của Trung Quốc. Vì vậy, hành động chống Việt Nam của Pôn Pốt Iêngxary được Mĩ và một số nước khác ủng hộ, cổ vũ. Trung Quốc còn có những hành động làm tổn hại đến tình cảm của nhân dân hai nước, cho quân khiêu khích dọc biên giới, rút chuyên gia nhằm gây khó khăn cho Việt Nam. Thậm chí, dựng nên sự kiện “nạn kiều” để cắt viện trợ, kêu gọi người Hoa đang làm ăn sinh sống ở Việt Nam về với “Tổ quốc vĩ đại”.
+ Ngày 17-2-1979, Trung Quốc cho một lực lượng lớn gồm 60 vạn quân (32 sư đoàn) cùng các phương tiện chiến tranh hiện đại mở cuộc tấn công dọc biên giới phía Bắc Việt Nam từ Móng Cái (Quảng Ninh), đến Phong Thổ (Lai Châu) trên tuyến biên giới dài hơn 1.000 km.
+ Để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, quân và dân ta, trực tiếp là quân dân 6 tỉnh biên giới phía Bắc đã đứng lên chiến đấu. Trước cuộc chiến đấu ngoan cường vì độc lập tự do của quân dân ta, trước sự phản đối chiến tranh xâm lược của Trung Quốc lan nhanh trên toàn thế giới. Trung Quốc phải tuyên bố rút quân (từ 5-3 đến 18-3 thì rút hết).
+ Chiến thắng biên giới phía Tây Nam và phía Bắc đã bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, bảo vệ nền độc lập tự do của dân tộc. Một lần nữa, chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam lại chiến thắng những toan tính hẹp hòi và hành động ăn cướp của các thế lực phản động quốc tế.
3.3. Việt Nam đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hội (1986-nay)
3.3.1. Đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam
- Trong hơn một thập kỷ thực hiện 2 kế hoạch nhà nước 5 năm, cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta đã đạt được những thành tựu và ưu điểm đáng kể trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Song cách mạng cũng gặp không ít khó khăn, đất nước lâm vào khủng hoảng, trước hết là khủng hoảng kinh tế - xã hội. Để khắc phục sai lầm khuyết điểm, đưa đất nước vượt qua khủng hoảng và đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa tiến lên, Đảng và Nhà nước ta tiến hành đổi mới.
 Đường lối đổi mới của Đảng được đề ra đầu tiên tại Đại hội VI (12-1986), được điều chỉnh, bổ sung và phát triển tại Đại hội VII (6-1991), Đại hội VIII (6-1996), Đại hội IX (4-2001), Đại hội X (4-2006)
- Đổi mới đất nước trong quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội, không phải là thay đổi mục tiêu chủ nghĩa xã hội mà làm cho các mục tiêu đó được thực hiệu có hiệu quả, bằng những quan điểm đúng đắn về chủ nghĩa xã hội. Đổi mới phải toàn diện, đồng bộ từ kinh tế, chính trị, đến tư tưởng, văn hóa. Đổi mới kinh tế không thể không đi đôi với đổi mới chính trị, nhưng trọng tâm là đổi mới kinh tế. Đổi mới chính trị phải tích cực nhưng vững chắc, tuyệt đối không gây mất ổn định về chính trị, không làm phương hại đến toàn bộ công cuộc đổi mới.
+ Quan điểm đổi mới kinh tế: Phát triển kinh tế xã hội chủ nghĩa theo quan điểm đổi mới ở Việt Nam là quá trình giải phóng sức sản xuất, khơi dậy mọi tiềm năng, động viên và tạo điều kiện cho mọi người Việt Nam phát huy ý thức tự lực tự cường, cần kiệm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, ra sức làm giàu cho mình và cho đất nước.
+ Đổi mới về chính trị: Tăng cường khối đoàn kết đại dân tộc, mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất, phát huy sức mạnh của cả cộng đồng. Nêu cao truyền thống yêu nước và lòng tự hào của dân tộc, lấy mục tiêu giữ vững độc lập dân tộc, thống nhất và tiến lên xây dựng dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh làm điểm tương đồng, đồng thời chấp nhận những điểm khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc. Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân là một trong những nội dung cơ bản của đổi mới hệ thống chính trị nước ta. Dân chủ đi đôi với kỷ luật, kỷ cương và phải được thể chế hóa bằng pháp luật và được pháp luật bảo đảm.
+ Về khoa học, giáo dục, văn hóa: Khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Khoa học công nghệ hướng vào việc nâng cao năng suất lao động, đổi mới sản phẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa trên thị trường. Thực hiện tốt chính sách bảo hộ sở hữu trí tuệ, đãi ngộ đặc biệt đối với các nhà khoa học có công trình xuất sắc.
 Giáo dục và đào tạo (cùng với khoa học và công nghệ) phải thực sự trở thành quốc sách hàng đầu. Bằng nhiều hình thức đa dạng bảo đảm cho mọi người được học. Cải tiến chất lượng dạy và học, khắc phục những tiêu cực, yếu kém trong ngành giáo dục, tăng cường giáo dục công dân, giáo dục thế giới quan khoa học, lòng yêu nước, ý chí vươn lên vì tương lai bản thân và tiền đồ của đất nước. Thực hiện “giáo dục cho mọi người”, cả nước trở thành một xã hội học tập.
 Các hoạt động văn hóa có vị trí quan trọng trong việc hình thành nhân cách, làm phong phú đời sống tinh thần nhân dân. Tiếp thu tinh hoa văn hóa thế giới phải đi đôi với việc coi trọng những giá trị truyền thống và bản sắc văn hóa dân tộc. Hướng mọi hoạt động văn hóa vào việc xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, trí tuệ, đạo đức, thể chất, có năng lực sáng tạo, ý thức cộng đồng, lòng nhân ái, khoan dung, tôn trọng nghĩa tình, sống có văn hóa, quan hệ hài hòa trong gia đình cộng đồng và xã hội, biết tổ chức cuộc sống trong mọi hoàn cảnh.
+ Về quan hệ đối ngoại: Thực hiện chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở đa phương hóa, đa dạng hóa với tinh thần “Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế”. Mở rộng quan hệ quốc tế, hợp tác nhiều mặt, song phương và đa phương với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi.
3.3.2. Thành tựu và hạn chế của 20 năm đổi mới (1986 - nay)
- Thực hiện kế hoạch 5 năm (1986-1990)
+ Về lương thực thực phẩm: từ chỗ thiếu ăn triền miên, năm 1988 còn phải nhập khẩu hơn 45 vạn tấn lương thực, đến năm 1990 đã vươn lên đáp ứng nhu cầu lương thực trong nước, có dự trữ và có xuất khẩu. Năm 1988 là 19,5 triệu tấn, năm 1989 là 21,4 triệu tấn.
+ Sau một số năm đổi mới, hàng hóa trên thị trường, nhất là hàng tiêu dùng dồi dào, đa dạng, và lưu thông thuận lợi. Hàng trong nước tiến bộ về chủng loại và mẫu mã. Các cơ sở sản xuất gắn chặt với thị trường, phần bao cấp của nhà nước về vốn, giá, vật tư, tiền lương giảm đáng kể.
+ Kinh tế đối ngoại phát triển mạnh, mở rộng hơn trước về quy mô, hình thức góp phần quan trọng vào việc thực hiện mục tiêu kinh tế - xã hội. Từ năm 1986-1990 hàng xuất khẩu tăng 3 lần. 
+ Một thành tựu quan trọng nữa là đã kìm chế được một bước lạm phát:
Chỉ số giá tăng bình quân hàng tháng trên thị trường
1986
1987
1988
1989
1990
20%
10%
14%
2,5%
4,4%
+ Bước đầu hình thành nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước. Chính sách này được nhân dân hưởng ứng rộng rãi và nhanh chóng đi vào cuộc sống.
+ Sinh hoạt dân chủ trong xã hội ngày càng được phát huy. Quốc phòng được giữ vững, an ninh quốc gia được bảo đảm. Từng bước phá thế bao vây về kinh tế và chính trị của các thế lực thù địch, mở rộng quan hệ quốc tế.
Hạn chế:
+ Đất nước ta chưa ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, công cuộc đổi mới còn nhiều hạn chế, nhiều vấn đề kinh tế - xã hội nóng bỏng vẫn chưa được giải quyết, nền kinh tế còn mất cân đối lớn, lạm phát ở mức cao, lao động thiếu việc làm, nhiều cơ sở sản xuất đình đốn kéo dài. Chế độ tiền lương bất hợp lí, đời sống của những người sống bằng lương hoặc trợ cấp xã hội và một bộ phận nông dân giảm sút. Tốc độ tăng dân số còn cao. Tình trạng tham nhũng, ăn hối lộ, mất dân chủ, bất công xã hội, vi phạm pháp luật, kỉ cương và nhiều hiện tượng tiêu cực khác còn nặng nề và phổ biến. Sự nghiệp văn hóa - giáo dục có những mặt tiếp tục xuống cấp.
- Tiến bộ và hạn chế trong 5 năm 1991-1995
+ Nhịp độ tăng bình quân hàng năm về tổng sản phẩm trong nước đạt 8,2% (kế hoạch là từ 5,5 đến 6,5%). Công nghiệp tăng bình quân hàng năm 13,3% (kế hoạch là từ 7,5 đến 8,5%). Nông nghiệp tăng bình quân hàng năm 4,5% (kế hoạch là 3,7 đến 4,5%), sản lượng lương thực trong 5 năm tăng 26%, kim ngạch xuất khẩu thủy hải sản năm 1995 tăng 3 lần so với năm 1990.
+ Thị trường hàng hóa trong nước phát triển, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của xã hội về số lượng, chất lượng, chủng loại.
+ Tài chính, tiền tệ đều tiến bộ đáng kể, nổi bật nhất là chặn được nạn lạm phát cao, từng bước đẩy lùi lạm phát.
+ Năng lực sản xuất của các ngành công nghiệp, nông nghiệp, lâm, ngư nghiệp và dịch vụ tăng. Đưa vào hoạt động một số công trình quan trọng của nền kinh tế như điện, dầu khí, xi măng, sắt thép và các cơ sở dịch vụ du lịch.
+ Quan hệ sản xuất được củng cố và điều chỉnh phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất. Nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần tiếp tục được xây dựng. Cơ cấu kinh tế theo ngành và vùng đã bắt đầu chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa. Các ngành dịch vụ phát triển đa dạng.
+ Vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài trong 5 năm tăng nhanh, bình quân là 50%, đến cuối năm 1995 số vốn đăng ký các dự án đầu tư trực tiếp là 19 tỷ đô la, trong đó 1/3 đã được thực hiện.
+ Khoa học và công nghệ có bước phát triển mới, văn hóa và xã hội có những chuyển biến tích cực. Hoạt động khoa học - công nghệ gắn bó hơn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, thích nghi dần với cơ chế thị trường.
+ Công tác giáo dục - đào tạo có bước phát triển mới sau một số năm giảm sút. Tỷ lệ người biết chữ trong nhân dân tăng (đạt 90%), hình thức trường chuyên, lớp chọn phát triển ở nhiều địa phương. Nhiều trường bán công và dân lập ra đời và hoạt động bước đầu có hiệu quả.
+ Công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình phát triển sâu rộng và đạt được một số kết quả. Tỷ lệ sinh mỗi năm giảm một phần nghìn.
+ Thu nhập và đời sống của các tầng lớp nhân dân ở các vùng đều được cải thiện ở những mức độ khác nhau. Số hộ thu nhập trung bình, số hộ giàu tăng lên, số hộ nghèo giảm đi. Nhiều địa phương đã thanh toán được nạn đói. Mỗi năm giải quyết được hơn 1 triệu lao động có việc làm.
+ Người lao động được giải phóng khỏi ràng buộc của cơ chế không hợp lý, phát huy được quyền làm chủ và tính năng động sáng tạo, chủ động hơn trong việc tìm việc làm, tăng thu nhập, tham gia các sinh hoạt chung của cộng đồng xã hội. Lòng tin của nhân dân vào chế độ và tiền đồ của đất nước, vào Đảng và Nhà nước tăng lên.
+ Tình hình chính trị - xã hội được giữ vững, quốc phòng và an ninh được củng cố, tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc đổi mới.
- Hạn chế: nước ta vẫn là một trong nhưng nước nghèo nhất thế giới, lực lượng sản xuất còn nhỏ bé, cơ sở vật chất kỹ thuật, nhất là kết cấu hạ tầng còn lạc hậu, trình độ khoa học và công nghệ chuyển biến chậm, hiệu quả sản xuất kinh doanh, năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, chất lượng công trình thấp. Nhiều hàng hóa kém sức cạnh tranh với hàng nước ngoài.
+ Ngân sách Nhà nước thường xuyên căng thẳng, còn bội chi lớn. Hệ thống thuế phức tạp, chồng chéo, chưa hợp lý, có nhiều kẽ hở dễ bị lợi dụng. Tài sản quốc gia, tài chính công và tài chính doanh nghiệp nhà nước chưa được quản lý chặt chẽ.
+ Chất lượng giáo dục đào tạo thấp, công tác giáo dục vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn. Hệ thống khám chưa bệnh phần lớn bị xuống cấp cả về cơ sở vật chất kỹ thuật, tinh thần thái độ phục vụ. Người nghèo không đủ tiền chữa bệnh và cho con em đi học. Tình trạng ô nhiễm môi trường sinh thái, hủy hoại tài nguyên ngày càng tăng. Số người nhiễm HIV ngày càng tăng. Trật tự an toàn xã hội còn nhiều diễn biến phức tạp.
- Thành tựu và khó khăn trong 5 năm 1996-2000
Thành tựu:
 Mặc dù cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính từ giữa năm 1997-1999 của khu vực và thiên tai liên tiếp, hầu hết các mục tiêu chủ yếu của kế hoạch 5 năm đều đạt và vượt mức đề ra. Nền kinh tế vẫn giữ được nhịp độ tăng trưởng khá, cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch tích cực:
+ Duy trì được nhịp độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) là 7%/năm.
1989
1995
1996
1997
1998
1999
2000
3,7
9,5
9,3
9,0
6,0
4,8
7,0
+ Nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp phát triển liên tục (tăng 5,7%), góp phần quan trọng vào mức tăng trưởng chung và giữ vững ổn định kinh tế xã hội. Nông nghiệp tăng 5,6%, hàng năm lương thực tăng 1,6 triệu tấn. Bình quân lương thực tăng từ 360 kg (1995) lên 444 kg (2000). Sản lượng thịt lợn hơi tăng 1,4 lần so với 1995. Nghề nuôi trồng, đánh bắt thủy hải sản phát triển khá. Sản lượng thủy sản năm 2000 xuất khẩu đạt 1.475 triệu USD. Công tác trồng rừng, chăm sóc, bảo vệ rừng có tiến bộ.
+ Công nghiệp và xây dựng vượt qua những khó khăn, thách thức đạt được nhiều tiến bộ: công nghiệp tăng bình quân 13,5%/năm, xuất khẩu (công nghiệp và thủ công nghiệp) đạt 10 tỷ USD, gấp hơn 3,4 lần năm 1995. Một số khu công nghiệp, khu chế xuất với công nghệ hiện đại ra đời. Ngành xây dựng tiếp nhận công nghệ xây dựng mới, đảm nhận thi công nhiều công trình phức tạp, có quy mô lớn và hiện đại, một số vật liệu chất lượng cao được sản xuất trong nước đạt tiêu chuẩn châu Âu và khu vực (gạch lát nền, ốp lát).
+ Các ngành dịch vụ tiếp tục phát triển trong điều kiện khó khăn hơn trước, giá trị các ngành dịch vụ tăng 6,8%/năm. Du lịch phát triển đa dạng, phong phú, chất lượng dịch vụ được tăng lên. Dịch vụ bưu chính - viễn thông có bước phát triển và hiện đại hóa nhanh (bình quân 4 máy/100dân).
+ Cơ cấu kinh tế đã có bước dịch chuyển tích cực: tỷ trọng nông, lâm, ngư giảm từ 27,2 xuống 24,3%, công nghiệp và xây dựng tăng từ 28,7 lên 36,6%, dịch vụ từ 44,1 xuống 39,1%.
- Kinh tế đối ngoại tiếp tục phát triển:
+ Kim ngạch xuất khẩu trong 5 năm đạt 51,6 tỷ USD (gấp 1,5 lần kế hoạch trước, tăng 21%). Thị trường xuất nhập khẩu được củng cố và được mở rộng sang EU, châu Mĩ, Trung Đông...
+ Tổng số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đưa vào thực hiện đạt khoảng 10 tỷ USD tăng 1,5 lần so với kế hoạch trước. Các doanh nghiệp Việt Nam cũng đã đầu tư ra nước ngoài (có 40 dự án đầu tư vào 12 nước và vùng lãnh thổ).
- Sự nghiệp giáo dục và đào tạo có bước phát triển mới cả về quy mô, chất lượng, hình thức đào tạo và cơ sở vật chất:
+ Quy mô giáo dục và đào tạo tiếp tục tăng ở tất cả các bậc học, ngành học. Năm học 1999-2000 đào tạo đại học tăng gấp 3 lần, đào tạo nghề gấp 1,8 lần. Sinh viên cao đẳng và đại học là 900.000 trên 77 triệu dân, cả nước có hơn 100 trường đại học, có 9.000 tiến sĩ và phó tiến sĩ. Đến năm 2000, 100% tỉnh thành phố đạt tiêu chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học và xóa mù chữ. Phong trào học tập văn hóa khoa học kỹ thuật, nghiệp vụ quản lý, ngoại n

Tài liệu đính kèm:

  • docLICH SU VIET NAM 1975_12262577.doc