Sáng kiến kinh nghiệm Một số kinh nghiệm trong lĩnh vực phát tiển ngôn ngữ cho trẻ 4-5 tuổi

TÓM TẮT SÁNG KIẾN

 1. Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến

 Phát triển ngôn ngữ là một trong năm mặt phát triển toàn diện cho trẻ ở trường mầm non. Phát triển ngôn ngữ đối với trẻ vô cùng quan trọng nó không chỉ là sự phát triển về ngôn ngữ, lời ăn tiến nói, cách ứng xử của trẻ mà nó còn là yếu tố để giúp trẻ phát triển toàn diện các mặt khác như: nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm kỹ năng xã hội, thẩm mỹ. Vì vậy việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ trong trường mầm non là một nhiệm vụ quan trọng.

 2. Điều kiện, thời gian, đối tượng áp dụng sáng kiến

 Tôi đã nghiên cứu và áp dụng sáng kiến “Một số kinh nghiệm trong lĩnh vực phát tiển ngôn ngữ cho trẻ 4-5 tuổi” từ thời điểm tháng 9 năm 2017 đến tháng 02 năm 2018 tại lớp mẫu giáo 4 – 5 tuổi mà tôi phụ trách.

3. Nội dung sáng kiến

 Trong nội dung sáng kiến của mình chúng tôi chỉ ra được thực trạng còn tồn tại trên cơ sở đó chúng tôi đã xây dựng và đề xuất một số biện pháp sau :

 Biện pháp 1. Bồi dưỡng nâng cao nhận thức, cung cấp cho trẻ những kiến thức, trí thức về thế giới xung quanh trẻ .

 Biện pháp 2. Tìm hiểu đặc điểm tâm sinh lí của trẻ. Mở rộng hiểu biết và tích luỹ vốn kinh nghiệm cá nhân .

 Biện pháp 3. Tạo môi trường cho trẻ làm quen với văn học.

 Biện pháp 4. Tổ chức tiết học nhẹ nhàng linh hoạt.

 Biện pháp 5. Chú ý rèn nề nếp, rèn kỹ năng và kích thích sự sáng tạo

doc 22 trang Người đăng hanhnguyen.nt Ngày đăng 21/12/2020 Lượt xem 4Lượt tải 0 Download
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số kinh nghiệm trong lĩnh vực phát tiển ngôn ngữ cho trẻ 4-5 tuổi", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
chỉ là 3 trẻ chiếm 11%. Với kết quả như trên ta thấy, đa số trẻ chưa nắm được kiến thức cơ bản về những thói quen vệ sinh và hành vi văn minh.
	Qua phần khảo sát trên, tôi phải phân loại đối tượng trong lớp để nắm được tình hình thực tế tìm hiểu và giáo dục một số trẻ cá biệt. Do đó chỉ tiêu cần đạt cuối năm học là từ 90 – 95% trẻ lớp tôi có kĩ năng sử dụng ngôn ngữ mạch lạc.
 	3. Các giải pháp, biện pháp thực hiện
 3.1. Biện pháp 1: Bồi dưỡng nâng cao nhận thức
	Hiện nay chương trình Giáo dục Mầm non được cải cách, thay đổi nhiều ở tất cả các lĩnh vực đặc biệt lĩnh vực phát triển ngôn ngữ, trước sự thay đổi nhiều về phương pháp giảng dạy và nhu cầu lĩnh hội kiến thức của trẻ được nâng cao. Với bản thân tôi nói riêng và các giáo viên mầm non nói chung phải không ngừng học tập, trau rồi nâng cao trình độ, để tìm gia những phương pháp dạy học tích cực nhất, thu hút trẻ tập chung vào bài học, và mang lại kết quả nhận thức cao nhất cho trẻ.
	Hiện nay công nghệ thông tin ngày càng được ứng dụng nhiều trong các lĩnh vực. Bậc học Mầm  non đã đưa Công nghệ thông tin vào trong các hoạt động để giúp trẻ nhận thức và gây hứng thú cho trẻ. Vì vậy tôi nghĩ bản thân phải có phương pháp sử dụng ứng dụng công nghệ thông tin vào bài dạy của mình sao cho hợp lý để giúp trẻ tiếp thu bài nhanh nhất, hiệu quả nhất trong mục tiêu giúp trẻ phát triển ngôn ngữ mạch lạc. do đó yêu cầu đặt ra với bản thân  tôi nói riêng và các giáo viên mầm non nói chung phải không ngừng học tập, trau dồi nâng cao trình độ cả về lý thuyết lẫn thực hành vi tính sao cho sử dụng thành thạo. Bên cạnh đó tôi vẫn tìm tòi học hỏi thêm cách soạn giáo án powerpoint trên máy vi tính, đây cũng là những gợi ý tốt để giáo viên có thêm những ý tưởng sáng tạo mới nhằm tổ chức các hoạt động cho trẻ một cách sinh động, cuốn hút và đạt hiệu quả cao hơn .
Không chỉ bồi dưỡng nâng cao nhận thức cho cô, mà cũng cần cho trẻ được làm quen ,tiếp cận với những đồ dùng đồ chơi cô đã chuẩn bị, điều đó cũng giúp cho giáo viên nắm bắt được sâu hơn tâm lý và sở thích của trẻ .
	3.2. Tìm hiểu đặc điểm tâm sinh lí của trẻ.
	Tôi tiến hành tìm hiểu đặc điểm tâm sinh lí của trẻ 4 tuổi để so sánh với trẻ 5 tuổi, từ đó có biện pháp bồi dưỡng giáo dục trẻ 4 tuổi.
	* Đặc điểm phát âm:
	- Nói chung trẻ đã phát âm tốt hơn, ít ê a, ậm ừ. Trẻ vẫn còn phát âm sai, những âm thanh khó có 2-3 âm tiết như: lựu – nịu, hươu – hiu, lá- ná, nói – lói, chiêm chiếp – chim chíp, Tuy nhiên lỗi sai đã ít hơn so với trẻ 3 tuổi.
	* Đặc điểm vốn từ:
	- Vốn từ của trẻ tăng nhanh khoảng 1300 – 2000 từ. Danh từ và động từ ở trẻ vẫn chiếm ưu thế. Tính từ và các loại từ khác trẻ đã sử dụng nhiều hơn.
	- Trẻ đã sử dụng chính xác các từ chỉ biểu tượng về kích thước như:             Cao – thấp, dài – ngắn, rộng – hẹp, các từ chỉ tốc độ như: Nhanh – chậm, các từ chỉ màu sắc: đỏ, vàng, trắng, đen. Ngoài ra các từ khái niệm thời gian như: Hôm qua, hôm nay, ngày maitrẻ dùng còn chưa chính xác. Một số trẻ còn biết sử dụng các từ chỉ màu sắc như: Xám, xanh lá cây, tím, da cam.
	- 100% trẻ biết sử dụng các từ cao, thấp, dài , ngắn, rộng, hẹp. Có 55% số trẻ đếm được từ 1- 10. Tuy nhiên trẻ sử dụng một số từ còn chưa chính xác. Ví dụ: Mẹ có muốn ngồi hông? ( không)
	* Đặc điểm ngữ pháp:
	- Trẻ ít sử dụng câu cụt hơn. Tuy nhiên trong một số trường hợp trẻ sử dụng từ vẫn chưa thật chính xác. ví dụ: Mẹ ơi! Con muốn cái dép kia! Chủ yếu trẻ vẫn sử dụng câu đơn mở rộng.
	- Trẻ có khả năng kể lại chuyện và kể chuyện có trình tự logic. Thế nhưng qua tìm hiểu quá trình phát triển ngôn ngữ của trẻ 4 tuổi chuyện có trình tự logic.
	3.3. Tạo môi trường cho trẻ làm quen với văn học.
	* Về phía lớp:
	Ngay từ đầu năm học tôi đã phối hợp với cha mẹ học sinh khuyến khích sưu tầm và đóng góp các loại băng đĩa ghi hình, ghi tiếng về các bài thơ câu chuyện, sách chuyện, tranh chuyện, họa báo, tạp chí, để xây dựng góc sách chuyện mang những nội dung giúp trẻ làm quen văn học, để các giờ hoạt động góc trẻ được xem tranh vẽ về các câu chuyện, bài thơ.Trong giờ hoạt động góc này cô giúp trẻ, hướng dẫn trẻ dần dần chi giác và đọc kể được những bài thơ câu chuyện đó.
	Trong giờ đón và trả trẻ tôi mở đĩa ghi hình và tiếng những bài thơ câu chuyện cho trẻ xem nhằm giúp trẻ tri giác dần dần nội dung những bài thơ câu chuyện đó.
	- Tôi luôn tận dụng diện tích phòng học, chú ý bố trí sắp xếp các học cụ, đội hình để tạo môi trường học và thoải mái cho trẻ.
Trong lớp tôi trang trí những mảng tranh chuyện thể hiện nội dung những bài thơ, câu chuyện theo từng chủ điểm. VD: với chủ diểm thế giới thực vật tôi trang trí mảng tranh truyện “ Cây thìa là” hoặc thơ “Cây dây leo” hoặc tôi hướng dẫn các cháu cùng làm những quyển tranh về những câu chuyện, bài thơ trẻ đã được làm quen để tăng thêm phần phong phú cho góc sách chuyện và tận dụng khả năng tối đa nâng cao chất lượng làm quen văn học cho trẻ.
	- Tôi sử dụng các nguyên vật liệu mở như: Thanh tre. Ly nhựa, nắp thiếc, hộp sữa, lõi giấy vệ sinh để làm thành những con rối xinh xắn. Trẻ cũng có thể sử dụng được để kể chuyện theo ý thích.
	- Để làm trang phục cho trẻ khi đóng kịch tôi dùng: Vải vụn, giấy, lá cây, tạo nhiều kiểu dáng trang phục lạ mắt thu hút trẻ.
	- Chú ý đến khả năng phát triển ngôn ngữ của trẻ để có sự điều chỉnh và sửa sai, rèn luyện khả năng ngôn ngữ cho trẻ.
	-Bản thân tôi trước khi tổ chức hoạt động cũng phải tự luyện giọng kể, cách sử dụng tranh, sách tranh, rối, mô hình, giáo án powerpointđể giúp trẻ cảm thụ văn học một cách tốt nhất.
	*Về phía nhà trường:
	Từ những năm học trước thực hiện chuyên đề “Văn học” nhà trường đã có suy nghĩ cần phát huy hiệu quả phòng thư viện, đồ chơi,phòng máy tính với các trang thư viện điện tử ở đó lưu trữ những giáo án văn học có ứng dụng công nghệ thông tin hoặc những hình ảnh, giữ liệu  liên quan để thiết kế giáo án ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ tiết dạy làm quen văn học.
Đến nay trường đã có đủ sách, tranh chuyện, tranh thơ, thư viện đồ chơi, thư viện giáo án điện tử phục vụ tiết dạy văn học cho tất cả các lứa tuổi.
	-Về chuyện thì có truyện cổ tích, chuyện kể sang tạo theo từng chủ điểm, những bài thơ, ca dao, cùng với nguồn tài liệu được lựa chọn với khả năng nhận thức củ trẻ.
	-Trong thư viện đồ chơi có vòng quay kỳ diệu, tranh rời, để trẻ tự sắp thành câu chuyện, có sân khấu rối với đủ loại rối, trang phục để trẻ diễn tập tạo nhiều hứng thú để giới thiệu nhân vật trong chuyện và trong thơ, trẻ có thể đóng kịch thể hiện các nhân vật trong chuyện, trong thơ.
	Ngoài ra phòng thư viện còn trang bị đầy đủ phương tiện nghe nhìn như đài, băng hình, trang thư viện giáo án điện tử, máy chiếu, máy tính sách tay để phục vụ tốt cho việc dạy và học môn làm quen văn học cho trẻ.  
      	 4.4. Tổ chức tiết học nhẹ nhàng linh hoạt.
   	Để thu hút sự chú ý, gây hứng thú của trẻ tôi đã sử dụng công nghệ thông tin, mô hình rối, tranh minh họa  vào một số bài dạy cụ thể sau :
Ví dụ : Dạy câu chuyện : “ Cây thìa là ”
                         Chủ đề : Thế giới thực vật
               Chủ đề nhánh : Một số loại cây .
         Với bài dạy này tôi đã sử dụng phần mềm PoWerPoint để soạn giáo án điện tử phục vụ một số hoạt động trong tiết dạy.
Ví dụ: phần gây hứng thú cho trẻ, tôi chuẩn bị một số hình ảnh trên máy chiếu về cây, rau , quả. Tôi đọc câu đố, cho trẻ đoán và chiếu hình ảnh minh họa lên để trẻ kiểm tra câu trả lời của mình.
    	- Tôi kể chuyện lần 2 và giảng nội dung theo tranh minh họa trên máy chiếu.
   	 -Tôi sử dụng rối trong kể chuyện lần 3 cho trẻ nghe và dạy trẻ kể chuyện cùng cô đã gây được sự hấp dẫn, tập chung chú ý  cho trẻ.
        	 Trước khi vào tiết dạy tôi còn chuẩn bị máy tính xách tay đã cài đặt phần mềm PoWerPoint, máy chiếu, phông chiếu là những đồ dùng cần thiết khi giảng dạy .
    	 Vào giờ học để thu hút sự chú ý của trẻ tôi gọi trẻ đến bên cô và hỏi :
   	  -  Các con thấy thời tiết hôm nay như thế nào ?
   	  - Với thời tiết đẹp thế này các con có dự  định đi đâu ? ( trẻ nêu ý định)
   	   - Bây giờ cô có một đề nghị , cô con mình sẽ cùng đi chơi , cô sẽ đưa chúng mình đến thăm “vườn cây xanh” cô - các con cùng khám phá những điều thú vị trong khu vườn nhé!.
      	  Sau đó tôi sẽ nhẹ nhàng đọc câu đố, trẻ đoán tên cây, quả và chiếu cho trẻ xem hình ảnh về các loại cây trên máy chiếu và trò chuyện cùng cô . Tiếp đó cô nhẹ nhàng dẫn dắt trẻ vào câu truyện và cô kể diễn cảm cho trẻ nghe câu tryện bằng lời của cô sau đó cô hướng trẻ nhìn lên màn hình và giơí thiệu cho trẻ được quan sát những hình ảnh về câu tryện mà cô đã chuẩn bị sẵn trên máy, trẻ cùng cô đàm thoại nội dung câu truyện trên máy chiếu  và lắng nghe cô kể câu chuyện  đó trên băng đĩa .
	Với việc sử dụng công nghệ thông tin vào tiết dạy, trẻ đặc biệt có hứng thú, trước khi vào bài học, khi nhìn thấy trong lớp có máy vi tính, có máy chiếu, tất cả trẻ đều ngạc nhiên  đến sửng sốt và rất hưng thú, đến khi vào tiết học khi được xem trực tiếp các hình ảnh động âm thanh, bài hát trên màn hình trẻ  vô cùng thích thú. Tiết học trôi qua một  cách nhẹ nhàng đầy lôi cuốn trẻ từ đầu đến cuối. Đến khi  hết tiết học trẻ còn nói “ học tiếp đi cô”
	Với bài dạy này trẻ được quan sát kỹ các hình ảnh các loại cây một cách sống động và trung thực, trẻ được quan sát kỹ nội dung  tranh truyện trên máy chiếu thay vì quyển tranh truyện bé ở ngoài . Trẻ được xem và khắc sâu tính cách nhân vật  hiền lành tốt bụng, tham lam độc ác qua cử chỉ, nét mặt của từng nhân vật, qua đó trẻ tập trung cao độ vào tiết học, hăng hái phát biểu xây dựng bài, giờ học sôi nổi .
	Từ đó phát huy được tính tích cực, phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Giờ học đạt kết quả từ 90-95%.
Ví dụ 2:       Thơ “Gấu qua cầu”
        Chủ đề : Giao thông
Với bài dạy này tôi chuẩn bị :
+ Mũ gấu, mũ nhái bén, một cây cầu.
Mở đầu bài dạy tôi cho trẻ đến bên cô, cô đọc câu đố về đèn hiệu giao thông :
‘‘ Đèn mắt đỏ,mắt xanh
Suốt đêm không ngủ
Đứng canh bên đường’’             ( đèn hiệu giao thông)
 cùng trò chuyện về chủ đề giao thông sau đó cho trẻ  xem hình ảnh hai con gấu đang đi qua cầu trên máy chiếu và đàm thoại cùng trẻ .
	Có những con vật gì ?
	Chúng đang làm gì ?
	Những con vật này sống ở đâu ?
Sau đó cô đọc cho các cháu nghe .
      	    Thay vì trước đây tôi chỉ có thể sử dụng tranh ảnh hoặc những con vật bằng rối rẹt để giới thiệu với trẻ nên bài dạy chưa thực sự hấp dẫn, trẻ không hứng thú .Thì nay với công  nghệ thông tin tôi có thể dễ dàng tìm được hình ảnh những con vật sống trong rừng ở trên mạng thật dễ dàng .
	Cũng với những hình thức trên tôi giới thiệu tranh, đọc thơ, giảng nội dung theo tranh trên máy chiếu.
          	Tiếp theo tôi cho trẻ đọc thơ diễn cảm nhiều lần với nhiều hình thức khác nhau, khi trẻ đọc thơ đã hay và diễn cảm tôi tiến hành cho trẻ đóng kịch với vở kịch “Gấu qua cầu” tôi đã biên đạo sẵn.
        	  Chính điều đó kích thích sự hứng thú trẻ vào tiết học, trẻ nào cũng chăm chú theo dõi, khi kết thúc vở kịch trẻ vui mừng vỗ tay khen thưởng bạn. 	Qua tiết học trẻ không chỉ được làm quen với một số luật lệ đi đường đơn giản, mà còn được học chữ viết, được phát triển ngôn ngữ tích cực, trẻ đựơc học một cách thoải mái, nhẹ nhàng , vui chơi là chính, nhưng trong chơi có học . Giờ học đạt kết quả cao.
      	   3.5. Chú ý rèn nề nếp, rèn kỹ năng và kích thích sự sáng tạo của trẻ:
       	   - Cô hướng dẫn trẻ biết chia nhóm kể chuyện, tạo cho trẻ cảm giác tự tin, mạnh dạn, nhanh nhẹn và linh hoạt qua việc trẻ biểu diễn hoặc đóng kịch.
         	 - Rèn kỹ năng nhập vai nhân vật, bắt chước giọng điệu, thái độ, để thể hiện tính cách nhân vật trong chuyện từ đó khuyến khích trẻ thể hiện sự sáng tạo của mình trong khi biểu diễn hoặc đóng kịch.
       	   - Cô tổ chức tiết dạy mang tính chất gợi mở, tạo điều kiện cho trẻ tự thỏa thuận và tự chọn vai kể theo ý thích về sự sáng tạo của trẻ. Có thể dùng lời để khuyến khích, động viên trẻ thực hiện các vai diễn sáng tạo.
          	 - Rèn trẻ một số nề nếp, thói quen văn minh trong giờ học, biết ngoan ngoãn, chú ý, lắng nghe cô và bạn kể chuyện, đọc thơ, đóng kịch Hăng hái tham gia các hoạt động cùng cô và bạn.
	3.6. Tổ chức ôn luyện mọi lúc, mọi nơi, ôn luyện thông qua lễ hội:
   	  Ôn luyện mọi lúc, mọi nơi cũng là một biện pháp giúp ổn định trẻ.
 Tôi thường xuyên tổ chức ôn tập cho trẻ vào các hoạt động trong ngày, trong giờ hoạt động chính cô tích hợp cho trẻ đọc thơ hoặc vè trong phần gây hứng thú đầu giờ, trong giờ hoạt động ngoài trời cô tích hợp đồng dao vào các trò chơi vận động.
 Ví dụ: Trò chơi “Mèo đuổi chuột” lồng ghép bài đồng dao “Mèo đuổi chuột”,                                          
	Vào các buổi chiều trong tuần trước khi tổ chức các hoạt động chiều tôi thường cho trẻ đọc ôn lại các bài thơ, vè, đồng giao, câu chuyện trước, tổ chức hoạt động chiều sau.
        	Thông qua các hoạt động tổ chức lễ hội tổ chức hoạt động kể chuyện đóng kịch, đọc thơ theo một chương trình biểu diễn văn nghệ mà 100% trẻ được tham gia nhằm giúp trẻ hứng thú với bộ môn làm quen văn học.
         	Ví dụ: lễ hội 20/11chào mừng ngày nhà giáo Việt Nam. cho trẻ kể chuyện sáng tạo về cô giáo của mình.
      	  3.7. Thực hiện công tác tuyên truyền, Phối hợp với phụ huynh:
        	 - Tôi đã làm bảng tin tuyên truyền về chương trình dạy theo chủ đề và thay tin hàng tuần để phụ huynh biết, trong bảng tuyên truyền này tôi đã ghi rõ nội dung của từng câu chuyện, bài thơ, vè, đồng dao, để phu huynh nắm được nội dung và phối hợp với giáo viên rèn luyện thêm cho trẻ ở nhà.
         	 - Vận động phụ huynh hỗ trợ vật phế phẩm: thùng giấy, sách báo cũ, chuyện đọc, chuyện tranh, hoặc những đồ dùng đồ chơi do phụ huynh tự làm, dụng cụ hóa trang
         	 - Tôi  thường trao đổi, động viên phụ huynh cố gắng dành thời gian để tâm sự với trẻ và lắng nghe trẻ nói. Khi trò chuyện với trẻ phải nói rõ ràng mạch lạc, tốc độ vừa phải để trẻ nghe cho rõ.
          	- Cha mẹ, người thân cố gắng phát âm đúng để trẻ bắt chước.
        	- Khuyến khích hặc tuyên truyền với phụ huynh cung cấp kinh nghiệm sống cho trẻ. Tránh không nói tiếng địa phương, cần tránh cho trẻ nghe những hình thái ngôn ngữ không chính xác.
         	 3.8. Xây dựng kế hoạch:
        	  - Tôi xây dựng kế hoạch phát triển ngôn ngữ mach lạc cho trẻ cho trẻ theo từng quý xuyên suốt trong một năm học.
         	 Tháng 9 + 10: Tôi chú ý chọn những bài tập luyện tai nghe cho trẻ nhằm phát triển thính giác âm vị (cho trẻ nghe những bài hát, những câu chuyện, những bài đồng dao). Tôi tạo mọi điều kiện để trẻ tập trung chú ý luyện khả năng chú ý thính giác cho trẻ thông qua các bài tập, trò chơi (Tai ai thính, ai đoán giỏi) Cố gắng phát âm đúng, không phát âm sai vì trẻ hay bắt trước. Sửa lỗi phát âm cho trẻ khi phát âm sai mọi lúc, mọi nơi trong các hoạt động hàng ngày.
         	 Tháng 11+ 12: Tôi tập trung vào việc làm để tăng vốn từ cho trẻ?
         	Giáo viên cần nói diễn cảm, rõ ràng, giải thích nghĩa của từ khó giúp cho trẻ hiểu, nhớ và vận dụng được từ để đặt câu. Để đẩy mạnh sự phát triển khả năng vận động các cơ quan phát âm cần tập cho trẻ các bài tập luyện cơ quan phát âm thích hợp:
         “Con có cái ca, cô cắt quả cà, con cầm cái ca, cùng cười ha ha”.
        “ Có con ba ba, đội nhà đi trốn, bì bà bì bõm, bé bắt ba ba.”
         “Bà bảo bé, bé búp bê, bé bồng,bé bé, búp bê ngoan nào.”
        “ Lúa lên lớp lớp đòng đòng, lá non xanh.”
       	  Tháng 1 + 2: Vẫn xuyên suốt hai nhiệm vụ trên nhưng tôi đào sâu vấn đề luyện trí nhớ cho trẻ qua các bài thơ, đồng dao đặc biệt là những câu chuyện đầy lôi cuốn và hấp dẫn. Gợi ý cho trẻ sử dụng những loại câu đơn giản, đủ nghĩa.
         	 Đồng thời, Tôi xây dựng những trò chơi giúp trẻ nói đúng ngữ pháp, nói mạch lạc. Ví dụ: Trẻ “nói theo mẫu câu” của một câu chuyện nào đó: “Người anh tham lam chiếm hết ruộng vườn, nhà cửa, trâu bò của cha mẹ đẻ lại”(truyện cây khế) hoặc “nói nốt câu” Ví dụ: Cô nói: Bà biến thành chim vìTrẻ nói: Bà muốn bay đi tìm nước uống, hoặc: vì Tích Chu ham chơi không lấy nước cho bàCô lưu ý thay đổi các câu tùy theo mức độ phát âm của trẻ, cho trẻ chơi từ dễ đến khó, các mẫu câu phức tạp dần lên hoặc “đặt câu với từ”, “kể nốt truyện”, “kể chuyện”  để củng cố kỹ năng nói đúng ngữ pháp, phát triển trí tưởng tượng, sáng tạo của trẻ.
         	Một khi đã có một số lượng vốn từ phong phú trẻ sẽ tự tin kể chuyện, đọc thơ, đóng kịchmột cách hứng thú và tự nhiên.
	3.9. Làm đồ dùng đồ chơi:
     	    - Tôi tận dụng tất cả những nguyên vật liệu có thể sử dụng làm đồ chơi: Sách báo, lịch cũ, lõi giấy vệ sinh, ống lon, chai nhựa, xốp, vải vụn, cành cây khôlàm đồ chơi phục vụ tiết học phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
         	 - Dựa vào từng chủ đề tôi triển khai kế hoạch làm đồ dùng đồ chơi một cách cụ thể, mỗi chủ đề đều có một bộ đồ dùng đồ chơi phục vụ cho quá trình giảng dạy và vui chơi của trẻ. Hàng tháng Tôi và các cháu đều sử dụng những vật liệu có sẵn như giấy vụn, các loại lá, các màu, hạt bột để xé dán thành những cuốn tranh truyện do trẻ tự làm bằng những hình ảnh sưu tầm được, gợi ý cho trẻ tự kể chuyện theo trí tưởng tượng của trẻ.
        	  Từ những quần áo, vải vụn, ống giấy Tôi hướng dẫn trẻ làm các con rối thật xinh xắn từ những câu chuyện cổ tích trẻ được học hoặc được nghe hoặc được làm các nhân vật theo sự sáng tạo của trẻ.
        	  Khi kể chuyện tôi thường sử dụng những loại sách tranh truyện do đó việc vẽ trang trí cũng góp phần làm cho trẻ hứng thú khi nghe, xem hoặc muốn  được sử dụng sách. Trẻ sẽ biết cách sử dụng sách và giữ gìn sách, tranh truyện hơn.
	3.10. Biện pháp tổ chức thực hiện giúp trẻ phát triển ngôn ngữ mạch lạc:
         	Để giúp trẻ phát triển ngôn ngữ mạch lạc qua bộ môn làm quen văn học, tôi cho trẻ kể lại truyện, chơi đóng kịch và đóng vai theo chủ đề.
        	 * Dạy trẻ kể lại chuyện:
        	  - Trẻ tái hiện lại một cách mạch lạc, diễn cảm tác phẩm văn học mà trẻ đã được nghe. Trẻ sử dụng nội dung, hình thức ngôn ngữ đã có sẵn của các tác giả và của giáo viên. Tuy nhiên yêu cầu trẻ không học thuộc lòng câu chuyện một cách tự do thoải mái nhưng phải đảm bảo nội dung cốt truyện.
        	 - Yêu cầu đối với trẻ:
        	 + Kể nội dung chính của câu chuyện, không yêu cầu trẻ kể chi tiết toàn bộ nội dung tác phẩm. Lời kể phải có các cấu trúc ngữ pháp. Khuyến khích trẻ dùng ngôn ngữ chính của mình kể lại. Giọng kể diễn cảm, to, rõ, không ê a, ấp úng, cố gắng  thể hiện đúng ngôn ngữ đối thoại hay độc thoại.
        	 + Chuẩn bị: Tiến hành trước giờ học, kể chuyện cho trẻ nghe. Trước khi kể cô giao nhiệm vụ trẻ ghi nhớ và kể lại.
       	  + Tiến hành : Đàm thoại về nội dung câu chuyện. Đàm thoại nhằm mục đích giúp trẻ nhớ lại nội dung câu chuyện, giúp trẻ xây dựng dàn ý câu chuyện kể,lựa chon hình thức gôn ngữ (cách dùng từ đặt câu)
          	 Ví dụ: Truyện “Dê con nhanh trí” – Dê mẹ dặn dê con như thế nào?
         	 Câu hỏi phải phù hợp với trẻ cả về hình thức ngữ pháp và nhận thức. Khi đàm thoại cô cần lưu ý giới thiệu cho trẻ biết thêm các từ đồng nghĩa những cụm từ thay thế để tạo điều kiện cho trẻ lựa chọn từ để kể.
          Tôi dùng ngôn ngữ ngắn gọn, dễ hiểu, phù hợp với nhận thức của trẻ kể lại nộ dung tác phẩm: Cô kể diễn cảm, lời kể có các mẫu câu cần luyện cho trẻ (mới). Mẫu truyện của cô có tác dụng chỉ cho trẻ thấy trước kết quả trẻ cần đạt được về nội dung, độ dài, trình tự câu chuyện.
        	 Trẻ kể xong, cô nhận xét, đánh giá truyện kể của trẻ, không nên để đến cuối buổi trẻ sẽ quên mất những ưu, nhược điểm của mình hay của bạn. Cô cần nhận xét đúng, chính xác để có tác dụng khuyến khích, động viên trẻ,nhận xét cả về nội dung, ngôn ngữ tác phong.
        	 * Chơi đóng vai theo chủ đề:
         	- Khi chơi đóng vai theo chủ đề, trẻ phải tham gia vào các cuộc nói chuyện với bạn để phân vai, trao đổi với nhau trong khi chơi, trẻ bắt chước các nhân vật mà trẻ đóng vai, làm cho ngôn ngữ đàm thoại của trẻ thêm phong phú và đa dạng.
         	  Ví dụ: Chủ đề gia đình- chơi nấu ăn: Trẻ tự phân vai chơi của mình: Mẹ đi chợ, nấu ăn, chăm sóc các con, ba đi làm.         
           * Chơi đóng kịch:
           - Tổ chức cho trẻ chơi đóng kịch là một phương pháp tốt để phát triển ngôn ngữ đối thoại cho trẻ. Trẻ làm quen với các mẫu câu văn học đã được gọt giửa, chọn lọc. Khi đó trẻ cố gắng thể hiện đúng ngữ điệu, tính cách nhân vật mà trẻ đóng, giúp cho ngôn ngữ của trẻ mang sắc thái biểu cảm rõ rệt.
           Ví dụ: Chủ đề gia đình, câu chuyện Tích Chu.
           Cháu Thịnh  đóng vai Tích Chu: Lúc đầu ham chơi, thái độ không vâng lời, sau biết lỗi tỏ thái độ nhận lỗi, giọng chầm (Bà ơi, bà đi đâu! Bà ở lại với cháu, cháu sẽ mang nước cho bà, bà ơi!)
           Cháu Ánh đóng vai bà(giọng run run, rứt khoát) Bà đi đây! Bà không về nữa đâu!
           Cháu Thùy Dung đóng vai bà tiên (tính cách hay giúp đỡ mọi người, giọng dịu dàng,nhỏ nhẹ) Nếu cháu muốn bà cháu trở lại thành người thì cháu phải đi lấy nước suối tiên cho bà cháu uống. Đường lên suối tiên xa lắm cháu có đi được không?
           * Dạy trẻ kể chuyện ở các hoạt đông khác:
           * Hoạt động ngoài trời:
            Dạy trẻ kể về những hiện tượng, sự kiện trong cuộc sống hàng ngày, những điều trẻ đã biết, tưởng tượng Trẻ phải tự chọn nội dung, hình thức ngôn ngữ sắp xếp chúng theo một chật tự nhất định.
            Tôi chủ yếu tập cho trẻ kể theo hai dạng: kể chuyện miêu tả, kể chuyện theo chủ đề.
            * Kể chuyện miêu tả: Tôi dạy trẻ nêu tên, đặc điểm theo thứ tự khảo sát, tính liên hệ, kết thúc nêu ý nghĩa hoặc hành động.
            Ví dụ: Miêu tả thời tiết – Trời âm u, mây đen ,gió thổi mạnh, trời sắp mưa.
           * Kể chuyện theo chủ đề: Tôi chủ yếu rèn cho trẻ truyền đạt lại những sự kiện sảy ra trong một thời gian nhất định của nhân vật nào đó.
           Ví dụ: Truyện: Dê con nhanh trí – Con chó sói giả làm dê mẹ lúc dê mẹ đi vắng, nó giả giọng dê mẹ, nó nhúng chân vào thùng bột cho chân trắng giống dê mẹ. Nhưng chó sói vẫn bị dê con phát hiện ra và đuổi sói đi.
       	  Thời gian đầu trẻ kể theo mẫu của cô, sau đó có thể trẻ nhận thức chậm kể theo mẫu của cô. Để tập cho tr

Tài liệu đính kèm:

  • docSK mot so bien phap giup tre 4 5 tuoi phat trien ngon ngu_12274760.doc