Quan hệ Mỹ - Nhật sau chiến tranh thế giới thứ hai (1945 - 1991)

Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc với phần thắng cuộc thuộc về phe đồng minh còn phe phát xít trong đó có Nhật Bản thất bại thảm hại. So sánh lực lượng trên thế giới lúc này có sự thay đổi mạnh. Trong khi hầu hết các nước đồng minh thắng trận và các nước bại trận trở nên suy yếu thì Mỹ và Liên Xô vươn lên thành hai siêu cường quốc mạnh nhất cả về quân sự và chính trị.

Tuy nhiên cùng lúc này thì liên minh Xô-Mỹ tan rã, đồng thời mỗi nước sử dụng sức mạnh và ảnh hưởng của mình để hình thành những liên minh riêng đối lập nhau tạo nên thế hai cực chi phối quan hệ quốc tế. Trong cuộc chiến tranh lạnh giữa hai siêu cường này, thế giới bị phân thành hai khối nước đối đầu gay gắt trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế và tư tưởng là chủ nghĩa xã hội do Liên Xô đứng đầu và chủ nghĩa tư bản chủ nghĩa do Mỹ lãnh đạo. Nước Nhật khi đó, sau thời kỳ bị Mỹ và quân đồng minh chiếm đống, đã lựa chọn đi theo con đường tư bản chủ nghĩa. Trong vòng xoáy của cuộc đối đầu Đông-Tây, Nhật Bản đã trở thành đồng minh thân cận của Mỹ và được siêu cường này coi như tiền đồ chống lại Liên Xô và chủ nghĩa cộng sản ở khu vực. Cũng từ đó, Nhật Bản ngày càng phụ thuộc vào Mỹ hơn và luôn theo sát sự chỉ đạo của siêu cường này, đặc biệt trong lĩnh vực an ninh, quân sự.

 

docx 45 trang Người đăng trung218 Ngày đăng 18/04/2017 Lượt xem 152Lượt tải 0 Download
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Quan hệ Mỹ - Nhật sau chiến tranh thế giới thứ hai (1945 - 1991)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
giai đoạn cuối Chiến tranh lạnh. Để đối phó với những thách thức kinh tế Nhật, Tây Âu và phục hồi nền kinh tế suy thoái của mình, Mỹ cũng đang tăng cường quá trình “Trở về châu Á” liên kết kinh tế khu vực cùng với việc tạo dựng thế đứng chính trị để cạnh tranh với Mỹ. Biểu hiện quan hệ kinh tế Mỹ-Nhật rõ nhất trong giai đoạn này là chính sách chống thâm hụt trong cán cân mậu dịch Nhật – Mỹ của chính quyền Bush. Nhiều biện pháp đã được sử dụng trong 4 năm dưới chính quyền Bush và trong nhiều nhiệm kỳ kế tiếp theo. Cả hai nước luôn luôn cố gắng trong đàm phán và đi đến thay đổi trong chính sách kinh tế vĩ mô cũng như vi mô. Hàng năm, “Nhật Bản xuất sang Mỹ hơn 100 tỷ USD (đứng thứ hai sau Canada). Năm 1991, Nhật chiếm 15,2% giá trị thương mại của Mỹ (Canada là 17,1%)” [15, tr 43].
	Về quan hệ đầu tư đầu tư trực tiếp ngày càng giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ thống quan hệ Mỹ-Nhật Bản. Nó trở thành động lực chủ chốt trước hết cho sự phát triển kinh tế của mỗi nước. Một là, Nhật Bản ngày càng chia sẽ phần lớn thị trường đầu tư nước ngoài mà trước những năm 80 chỉ phụ thuộc vào Mỹ và Tây Âu. Hai là, song song với quá trình trên là việc Mỹ đầu tư vào Nhật. Năm 1990, “trong số 20 công ty hàng đầu của thế giới có đầu tư trực tiếp vào Nhật, thì Mỹ 11 công ty chiếm 55%. Ngoài ra, Mỹ là một trong những nước đứng đầu về đầu tư vào các lĩnh vực khác ở Nhật như: ngân hàng, bảo hiểm, dịch vụ, thương mại, buôn bán, công nghiệp chế tạo, kỹ thuật cao, nghiên cứu triển khai..”[15, tr 44]. 
	Sự phát triển thần kỳ của Nhật Bản trong giai đoạn 1952-1973 bắt nguồn từ một số nguyên nhân cơ bản như:
	Thứ nhất là nhân tố con người, phải nói rằng chế độ giáo dục của Nhật Bản khá phát triển và hoàn thiện. Người Nhật Bản rất chú trọng đào tạo đội ngũ công nhân lành nghề, có đủ khả năng nắm bắt và sử dụng những kỹ thuật, công nghệ mới. Đội ngũ cán bộ, khoa học kỹ thuật của Nhật Bản khá đông đảo, có chất lượng cao đã góp phần đắc lực vào bước phát triển nhảy vọt về kỹ thuật và công nghệ của đất nước. Giới quản lý và kinh doanh của Nhật Bản được đánh giá là những người sắc xảo, nhạy bén trong việc nắm bắt thị trường, đổi mới phương pháp kinh doanh, đem lại thắng lợi cho các công ty Nhật Bản trên trường quốc tế.
	Thứ hai, Nhật Bản tiếp cận và ứng dụng nhanh chóng những tiến bộ khoa học kỹ thuật. Nhật Bản đã chú trọng ứng dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật mới nhất của Âu-Mỹ bằng cách nhập khẩu công nghệ, kỹ thuật, mua các phát minh, sáng chế. Bằng cách đi khôn ngoan, chỉ hơn 20 năm sau chiến tranh, nền khoa học-kỹ thuật của Nhật Bản đã có bước phát triển nhảy vọt. Đến đầu những năm 1970, Nhật Bản đã đạt trình độ cao về tự động hóa, trình độ sử dụng máy vi tính trong các ngành sản xuất Đó là những nhân tố tác động rất mạnh đến tốc độ phát triển kinh tế của Nhật Bản sau chiến tranh.
	Thứ ba, Nhật Bản chú trọng điều tiết kinh tế của Nhà nước. Ngay sau chiến tranh, Chính phủ Nhật Bản đã thực hiện một loạt biện pháp để đẩy mạnh tự do hóa nền kinh tế, kích thích kinh tế phát triển theo cơ chế thị trường kết hợp với sự điều tiết của nhà nước thông qua các chính sách kinh tế vĩ mô. Nhà nước đã tạo ra môi trường kinh tế thuận lợi cho tăng trưởng bằng hệ thống pháp luật và khả năng duy trì trật tự xã hội bằng pháp luật và sự đầu tư trực tiếp vào kinh tế. Sự can thiệp của nhà nước vào các hoạt động kinh tế có tác dụng chống đỡ khủng hoảng, tạo ra những điều kiện cần thiết cho nền kinh tế tăng trưởng cao.
	Thứ tư, Nhật Bản đã mở rộng thị trường trong nước và nước ngoài. Nhờ cải cách ruộng đất, hình ảnh chủ trang trại kinh doanh nhỏ đã mở rộng sản xuất, cải tiến kỹ thuật, sử dụng máy móc công nghệ tiên tiến. Do đó, nông nghiệp nông thôn tạo ra thị trường rộng lớn cho sản xuất phát triển. Đồng thời Nhật Bản tìm cách xâm nhập vào thị trường thế giới như tăng khả năng cạnh tranh hàng hóa nhờ giảm chi phí sản xuất và chú trọng chất lượng sản phẩm, xây dựng đội ngũ thương nhân có năng lực, nhiều kinh nghiệm, thực hiện chính sách đối ngoại linh hoạt.
	Thứ năm, Nhật Bản đã kết hợp khéo léo cấu trúc kinh tế hai tầng. Đó là sự liên kết, hỗ trợ lẫn nhau giữa khu vực kinh tế hiện đại và khu vực truyền thống. Khu vực kinh tế hiện đại bao gồm các công ty lớn với kỹ thuật công nghệ tiên tiến, lượng vốn đầu tư lớn, sử dụng lao động suốt đời, tiền lương cao theo thâm niên, điều kiện làm việc tốt. Khu vực truyền thống chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ, sử dụng kỹ thuật công nghệ lạc hậu, lao động hợp đồng hoặc theo thời vụ, tiền lương và điều kiện làm việc thấp kém. Khi nền kinh tế lâm vào khó khăn, khu vực truyền thống sẽ trở thành “ đệm giảm xóc” cho các khu vực hiện đại. Với cấu trúc kinh tế hai tầng, nguồn lao động dư thừa và công nghệ lạc hậu sau chiến tranh được sử dụng hợp lý và có hiệu quả.
	Thứ sáu, Nhật Bản duy trì mức tích lũy cao thường xuyên, sử dụng vốn đầu tư có hiệu quả cao. Nhật Bản thời kỳ này được coi là một nước có tỉ lệ tích lũy vốn cao nhất trong các nước tư bản phát triển. Đây là một trong những nhân tố quyết định nhất, bảo đảm cho nền kinh tế Nhật Bản phát triển với tốc độ cao. Nhật Bản không phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn bên ngoài. Chính phủ giao cho Bộ Tài chính quản lý và kiểm soát rất chặt chẽ việc sử dụng các nguồn vốn đó. Nhật Bản sử dụng vốn một cách rất táo bạo và có hiệu quả. Trong sử dụng vốn, Nhật Bản đầu tư vào những ngành sản xuất lớn, hiện đại và có hiệu quả cao. Qúa trình tích tụ và tập trung sản xuất diễn ra rất nhanh chóng, đạt trình độ và quy mô quốc tế. Nhật Bản đã nhanh chóng xây dựng nên các ngành kinh tế mũi nhọn dựa trên kỹ thuật công nghệ hiện đại.
	Thứ bảy, Nhật Bản đẩy mạnh hợp tác với Mỹ và các nước khác. Sau 3 năm chiếm đóng và kiểm soát Nhật Bản, năm 1948 Mỹ đã chuyển giao quyên quản lý kinh tế và xã hội cho Chính phủ Nhật Bản. Bắt đầu từ đây, mối quan hệ Mỹ-Nhật được phục hồi và phát triển nhanh chóng. Đồng thời Nhật Bản có xu thế hội nhập quốc tế, hợp tác và nhất thể hóa kinh tế tư bản chủ nghĩa, xu thế hoàn hoãn và hợp tác của các công ty độc quyền quốc tế
	Từ đây chúng ta có thể thấy rằng, trong giai đoạn 1945-1973, nền kinh tế Nhật Bản đã phục hồi và phát triển nhanh chóng, vươn lên trở thành một trong các nền kinh tế hàng đầu thế giới. Sự phát triển kinh tế thần kỳ đó là sự kết hợp khéo léo giữa “công nghệ phương Tây” và “tính cách Nhật Bản”.
	Ta thấy quan hệ Mỹ-Nhật Bản từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, Nhật Bản là nước bại trận và Mỹ vừa là nước chiếm đóng, vừa là nước bảo trợ cho công cuộc phục hồi và tái thiết kinh tế của Nhật. Do đó, trong 20 năm đầu của thời kỳ này, từ 1945 đến giữa những năm 1960, Nhật Bản hoàn toàn phụ thuộc vào Mỹ về vốn, công nghệ thiết bị, thị trường cũng như nguyên nhiên vật liệu. Quan hệ giữa hai nước tương đối bình yên vì sự phụ thuộc có tính một chiều này. Tuy nhiên sau một thời gian dài tập trung phát triển kinh tế đặc biệt tập trung vào việc đuổi bắt công nghệ và định hướng xuất khẩu, sản phẩm của Nhật Bản ngày càng đổ nhiều vào thị trường Mỹ và đến những năm 1970, Nhật Bản đã có thặng dư thương mại với Mỹ và duy trì trong một thời gian dài.
	Kể từ đó sự phụ thuộc một chiều không còn nữa mà thay vào đó là những mâu thuẫn và xung đột thương mại song phương. Điều này được thể hiện rõ ràng qua những chính sách của Mỹ bắt đầu từ năm 1971, khi tổng thống Nixon đã sử dụng các biện pháp trừng phạt nhập khẩu trực tiếp đối với Nhật Bản và đe dọa sử dụng Luật thương mại với kẻ thù buộc Nhật Bản phải hạn chế xuất khẩu hàng dệt may. Cuối những năm 1970, Nhật Bản là trọng tâm của Thuyết di động của chính quyền của chính quyền Carter về việc kích thích kinh tế vĩ mô ở các nước khác nhằm mở rộng các nguồn tăng trưởng thế giới và giảm thâm hụt ngân sách của Mỹ. Tuy nhiên, vào thời kỳ này, Mỹ lấy Nhât Bản làm đối tác chiến lược và muốn xây dựng một nước Nhật hùng mạnh về kinh tế để gây sức ép với phe xã hội chủ nghĩa của Liên Xô nên Mỹ chưa có biện pháp mạnh mà chỉ yêu cầu phía Nhật Bản tự nguyện hạn chế xuất khẩu.
Những xung đột trong quan hệ kinh tế Mỹ Nhật bản lên tới đỉnh điểm từ những năm đầu thập kỷ 1980 đến giữa những năm 1990. Trong thời kỳ này, trọng tâm của xung đột không còn là vấn đề cạnh tranh không xứng đáng về những sản phẩm cụ thể mà tập trung vào vấn đề mở của thị trường Nhật Bản. Mỹ đã đồng thời hạn chế xuất khẩu của Nhật Bản sang Mỹ và đưa ra những biện pháp mạnh mẽ nhằm mở rộng xuất khẩu vào thị trường Nhật Bản. Tổng Thống R.Reagan đã đưa ra thỏa thuận về hạn chế xuất khẩu tự nguyện (VER) đối với ô tô Nhật Bản và sau đó là những hiệp định về sắt thép, máy móc, đạt được hiệp định Plaza năm 1985 về việc phá giá đồng yên, áp dụng chính sách thương mại cứng rắn, bao gồm cả việc áp dụng điều khoản về hoạt động thương mại không công bằng trong luật thương mại 1974 (kể cả đối với Nhật Bản), đàm phán hiệp ước đầu tiên về “thương mại quản lý” về chất bán dẫn năm 1986-1987 và đưa ra những nổ lực về Đàm phán chuyên định thị trường (MOSS) 1985-1987. Tổng thống George Bush sau đó đã đưa ra Sáng kiến loại bỏ cản trở cản trở cơ cấu (SII) trong giai đoạn 1989-1991.
	Tóm lại, Mỹ thường theo đuổi một số mục tiêu chính sách kinh tế toàn cầu như thúc đẩy tăng trưởng và ổn định kinh tế trong nước, duy trì một nền kinh tế thế giới ổn định và thịnh vượng, thúc đẩy chính sách đối ngoại bao quát và các mục tiêu an ninh quốc gia. Những mục tiêu toàn cầu này được thực hiện thông qua các quan hệ với các nước cụ thể trong những khoảng thời gian cụ thể, nhưng việc đưa ra một chính sách đối với một quốc gia cụ thể thường là một sự đổi mới chiến thuật để thúc đẩy các mục tiêu đa phương lớn hơn. Tuy nhiên, Nhật Bản là một ngoại lệ trong chính sách đối ngoại của Mỹ từ sau chiến tranh. Sau nhiều năm dai dẳng đàm phán, Mỹ đã nổ lực “giải quyết vấn đề Nhât Bản” đặc biệt là từ sau khi Nhật Bản trở thành “một siêu cường kinh tế”. Mỹ tập trung vào việc hạn chế xuất khẩu từ Nhật Bản trong những năm 1970 đến 1980, thâm nhập thị trường Nhật Bản từ 1985 đến 1995, các vấn đề tài chính và kinh tế vĩ mô trong 5 năm cuối cùng của thập kỷ 1990. Trong mọi khía cạnh kinh tế Nhật Bản, đặc biệt là thương mại và đầu tư, từ các vấn đề kinh tế vĩ mô rộng nhất đến các lĩnh vực ngành nghề chi tiết nhất đã được Mỹ tập trung giải quyết. Trong suốt quá trình đó, Mỹ đã sử dụng rất nhiều biện pháp chính sách cụ thể: đơn phương, song phương khu vực và đa phương và kết hợp với các biện pháp khác nhau.
	Thực trạng quan hệ kinh tế Mỹ-Nhật Bản trong những năm cuối thập kỷ 1990 có những điểm đáng ghi nhận, đặc biệt trong vấn đề thị trường Nhật Bản. Như vậy, đến cuối thập kỷ 1990, quan hệ kinh tế Mỹ-Nhật Bản cũng như chính sách kinh tế giữa hai nước đối với nhau có nhiều thay đổi. Những thay đổi quan trọng trong quan hệ hai nước này chắc chắn sẽ có những ảnh hưởng trong sự phát triển của hai nước cũng như hệ thống kinh tế toàn cầu. 
	Từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, các nhà hoạch định chính sách của hai nước Mỹ và Nhật Bản đã xây dựng một mối quan hệ an ninh, chính trị kinh tế vững chắc, thường được gọi là mối quan hệ song phương quan trọng nhất thế giới. Thực tế, Mỹ đã duy trì một chính sách chuyên biệt với Nhật Bản trong ít nhất là ¼ thế kỷ	
2.2. Quan hệ trên lĩnh vực chính trị, xã hội
	Quan hệ Mỹ - Nhật sau chiến tranh thế giới thứ hai được xác định trên cơ sở ba văn bản pháp lý quan trọng nhất gồm Tuyên cáo Potsdam ngày 26-7-1945, Chính sách ban đầu của Mỹ đối với Nhật sau khi Nhật đầu hàng SWNCC 150/4/A được thổng thống Truman công bố vào 22-9-1945 và Chỉ thị văn bản ban đầu đối với Chỉ huy tối cao các Lực lượng Đồng minh về vấn đề chiếm đóng và kiểm soát Nhật Bản sau khi Nhật Bản đầu hàng JCS 1380/15 được Ủy ban Tham mưu trưởng hỗn hợp phê chuẫn đầu tháng 11-1945. Tuyên cáo Potsdam do ba nước Mỹ, Anh và Trung Quốc thông qua (Liên Xô sau đó cũng ký vào tuyên cáo này) xác lập những nguyên tắc mang tính khái quát về việc chiếm đóng Nhật Bản, trong đó quan trọng nhất là đặt cơ sở pháp lý cho quân đồng minh, trên thực tế chỉ là các lực lượng quân đội Mỹ, tiến vào chiếm đóng Nhật Bản từ cuối tháng 8-1945. “Văn bản mang ký hiệu SWNCC 150/4/A do Mỹ đưa ra sau nhiều lần sửa đổi, hoàn thiện từ các bản dự thảo SWNCC 150 (6-1945), 150/1(11-8-1945), 150/2 (12-8-1945), 150/3 (22-8-1945), 15/4 (6-9-1945) và JCS 1380/15”[29, tr 18]. Ngoài nội dung đề cập mục tiêu, nhiệm vụ, hình thưc chiếm đóng, quyền hạn của người nắm quyền cao nhất và quốc gia nắm quyền quyết định trong trường hợp các nước đồng minh bất đồng ý kiến là Mỹ, đều đưa ra chương trình phi quân sự hóa mang tính sâu rộng và cải cách nền kinh tế, chính trị Nhật Bản nhằm thay đổ chính sách xã hội Nhật Bản từ “quân chủ” sang “dân chủ”, từ “quân phiệt, hiếu chiến” sang “hòa bình, ổn định” xây dựng “xã hội mới”, đảm bảo Nhật Bản không trở thành mối đe dọa đối với nước Mỹ[29, tr 18]. Với những cơ sở nêu trên cùng tác động của sự chuyển biến tình hình trong nước, khu vực và quốc tế. Sau chiến tranh một trong những tác động lớn làm biến đổi xã hội Nhật Bản, tạo nên một nước Nhật ổn định chính trị và xã hội là cơ sở cho Nhật Bản bước vào giai đoạn thần kỳ kinh tế vào cuối những năm 70 của thế kỷ XX. Đưa đến một xã hội Nhật Bản được coi là xã hội ổn định, là một trong những nguyên nhân tạo ra sự tăng trưởng “thần kỳ kinh tế Nhật Bản”. Đó là những hiệu quả biến đổi trực tiếp do các cuộc cải cách mang lại, trong đó đặc biệt là cải cách chính trị. Hàng loạt các biện pháp giải quyết cấp bách sau chiến tranh như: khuyến khích phát triển các tổ chức dân chủ, cho phép thành lập các công đoàn hiệp hội và thực hiện một loạt biện pháp giảm lạm phát, cứu đói, khuyến khích sản xuất để tạo thêm sức mạnh và tinh thần dân tộc Nhật Bản. Các cuộc cải cách chính trị: thanh trừng tội phạm phát xít, phong trào đòi tự do hoạt động của các đảng phái chính trị đã đi trước một bước tạo tiền đề cho cải cách, làm trong sạch bộ máy chính trị, chuyển toàn bộ bộ máy chính trị phục vụ chiến tranh sang phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế và đã thổi một làn gió tự do, dân chủ trong nền kinh tế, tạo điều kiện, cơ sở thuận lợi cho Nhật Bản bước vào kỷ nguyên tăng trưởng kinh tế .
	Cải cách chính trị Nhật Bản quan trọng nhất sau chiến tranh là cải cách Hiến pháp. Hiến pháp mới đã được ban bố vào ngày 07/10/1946 dưới hình thức chế độ Thiên Hoàng là tượng trưng, chủ quyền thuộc về nhân dân, hòa bình và tôn trọng quyền cơ bản của con người. Hiến pháp trên thực tế đã tuyên bố xóa bỏ những hình thức phong kiến ràng buộc quyền cơ bản của con người. Hiến pháp 1946 thực tế công khai xóa bỏ những ràng buộc phong kiến và là điểm khởi đầu cho những tư tưởng dân chủ, tự do, bình đẳng của xã hội Nhật Bản ngay sau Chiến tranh thế giới thứ hai, đã tạo cơ sở xã hội mới cho mọi người dân trong cuộc sống và đóng góp xứng đáng vào sự phát triển đất nước. Hiến pháp Nhật Bản 1946 được coi là Hiến pháp hòa bình đã thực sự có hiệu quả trong thực tế cùng với áp lực của sức mạnh Đồng minh, cùng nhiều lý do khách quan và chủ quan khác nhau, môi trường hòa bình do Hiến pháp mang lại đã tạo điều kiện thuận lợi cho Nhật Bản ổn định, an tâm phát triển kinh tế. Các cuộc cải cách chính trị như thanh trừng những người có tư tưởng quân phiệt, hiếu chiến ra khỏi các công ty, xí nghiệp hay trong các cơ quan chính phủ đã tạo điều kiện thổi vào đây những tư tưởng mới, hòa bình, dân chủ, tự do. Cùng với những biến đổi trong nền chính trị, xã hội Nhật Bản do cải cách chính trị tạo ra, những thành quả của nó đã tạo ra mối quan hệ hợp tác tốt đẹp giữa chủ-thợ trong quá trình lao động.
	Sau Chiến tranh thế giới thứ hai đã thanh trừng những người có tư tưởng phát xít ra khỏi ngành giáo dục, cải cách thể chế giáo dục tiến bộ, đưa tư tưởng giáo dục mới, thể chế giáo dục mới vào các trường học.... đã tạo nên một thế hệ con người mới sau chiến tranh có trình độ học vấn cao, có tư tưởng hòa bình và phát triển kinh tế. Các cuộc cải cách dân chủ sau chiến tranh đã góp phần chuyển biến nước Nhật từ “quân phiệt”, “hiếu chiến”, sang “hòa bình”, “dân chủ”, góp phần vào việc xây dựng và củng cố một nền chính trị và xã hội ổn định suốt một thời gian dài sau đó.. Các tệ nạn xã hội ở Nhật Bản ít hơn so với ở Mỹ. Trên chính trường (trong vòng khoảng 50 năm sau chiến tranh) trừ thời gian nội các Katayama của Đảng Xã hội chỉ tồn tại được 7 tháng còn hầu hết thời gian sau chiến tranh liên tiếp do Đảng Dân chủ Tự do Nhật Bản nắm và đảng này đã có chính sách đúng đắn, nhất là đối với nông dân sau cải cách ruộng đất. Tình hình trên đã mang lại sự ổn định xã hội, duy trì được tính thống nhất của chính sách mới sau chiến tranh. Chính sách của Đảng Dân chủ Tự do Nhật Bản đã có không ít những chủ trương tiến bộ tạo nên những ổn định chính trị, xã hội mang lại sự thay đổi cho Nhật Bản trong phát triển đất nước mọi mặt sau chiến tranh.
	Mỹ và Nhật Bản là hai nước có xuất phát điểm văn hóa khác nhau. Người Mỹ chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Cơ đốc giáo phương Tây, năng động và phát huy vai trò cá nhân. Người Nhật Bản chịu ảnh hưởng của nền văn hóa đạo Khổng, sống trong một xã hội có trên có dưới và thường có những quyết định mang tính chất tập thể - một đặcc điểm chung của nền văn hoá châu Á [13, tr 57]. Ngoài những lý do về yếu tố truyền thống, cơ sở xã hội, tư tưởng đạo đức phong kiến đạo Khổng còn rơi rớt lại thì rõ ràng tính chất tập thể, đặc thù hợp tác chủ - thợ chủ yếu được xuất hiện dưới tác động của các cuộc cải cách sau chiến tranh, tạo nên tiền đề thúc đẩy sự phát triển kinh tế giai đoạn sau đó. Trong thời gian trước Chiến tranh thế giới thứ hai, quan hệ công nhân và giới chủ ở Nhật Bản phổ biến không phải là quan hệ hợp đồng mà là quan hệ phụ thuộc gần như quan hệ của nông dân và chủ phong kiến, hình thành chế độ “làm thuê”,“bán mình”. Công nhân không có quyền hành, thiếu ý tổ chức và  chỉ chịu theo mệnh lệnh của chủ. Họ thường làm việc, ăn, ở ngay trong xí nghiệp và không được ra ngoài. Chế độ này làm cho công nhân mất quyền tự do về sinh hoạt, cũng như các hoạt động khác.
	Ngược lại, sau Chiến tranh thế giới thứ hai nhờ tác động của phong trào lao động và đặc biệt là do các cuộc cải cách lao động: cải cách về hợp tác chủ - thợ, ban bố các đạo luật công đoàn, mối quan hệ chủ - thợ đã thay đổi tạo nên hình thức lao động mới là công đoàn xí nghiệp. Trong xí nghiệp, họ khuyến khích công nhân cổ trắng và công nhân cổ xanh cùng hoạt động, đồng thời cấp nhà ở và những điều kiện thuận lợi khác cho các hoạt động của công đoàn. Giới chủ đã thỏa thuận ký kết với công đoàn về chế độ trả lương theo thâm niên, việc làm ổn định trong xí nghiệp. Xí nghiệp như một gia đình lớn trong đó chủ có “trách nhiệm và quan tâm” đến công nhân và ngược lại công nhân cũng phải “tận tâm”, “trung thành” với chủ. Vì vậy, trong các phong trào công đoàn, hầu hết công nhân đều có chung một ý nghĩ “những cuộc đấu tranh sẽ không gây nguy hại cho tương lai của công ty mình ..”. Việc thực hiện trả lương  theo thâm niên và đảm bảo ổn định việc làm buộc giới chủ  phải thường xuyên chuyển hoặc đào tạo lại công nhân của xí nghiệp nếu họ muốn áp dụng khoa học kỹ thuật hiện đại nhằm tăng năng suất lao động. Như vậy, việc cải cách công đoàn từ công đoàn ngành trước chiến tranh thành công đoàn xí nghiệp (công đoàn được tổ chức theo công ty chứ không phải ở cấp toàn ngành) trong các công ty và việc thay đổi quan hệ giữa những người chủ  với các nhân viên nhằm đảm bảo việc làm ổn định đã giúp cho các công ty Nhật Bản tích cực phát huy sáng kiến và áp dụng nhanh chóng những thành tựu khoa học kỹ thuật để tăng năng suất lao động và gắn bó với công nhân. Bên cạnh đó, sự đối xử công bằng với cả công nhân lẫn nhân viên trong công đoàn, xí nghiệp cũng đã tạo điều kiện hợp tác trong quá trình sản xuất. Công đoàn công ty và cải cách quan hệ lao động giữa giới chủ và công nhân đã tạo ra những biến đổi trong cơ cấu quan hệ lao động, góp phần tạo ra năng suất lao động cao và khát vọng cạnh tranh, chuẩn bị tiền đề cho sự tăng trưởng kinh tế nhanh vào cuối tập kỷ 50 và 60 của thế kỷ XX. Việc làm ổn định, lương theo thâm niên và công đoàn công ty cùng quan hệ hợp tác chủ-thợ ở Nhật Bản có sự kết hợp với chủ nghĩa truyền thống lao động có tính chất gia đình. Nhưng đó không phải là những điều kiện có sẵn sau chiến tranh mà chúng là sản phẩm của cuộc đấu tranh lâu dài của phong trào công nhân sau chiến tranh, đặc biệt nhất là trong giai đoạn cải cách sau chiến tranh. Đây có thể coi là những giá trị mới của Nhật Bản sau chiến tranh tạo điều kiện cho Nhật Bản bước sang một thời kỳ phát triển thịnh vượng mới.
	2.3. Quan hệ trên lĩnh vực an ninh, quân sự
	Bên cạnh việc ban bố “Hiến pháp hoà bình” thì một sự kiện khác cũng vô cùng quan trọng đối với việc hình thành chính sách an ninh, quốc phòng mới của Nhật Bản, là việc ký kết hiệp ước hoà bình của 48 nước Đồng minh tuyên bố chấm dứt chiến tranh với Nhật tại Hội nghị San Francisco, ngày 8/9/1951. Bản hiệp ước buộc Nhật phải cam kết từ bỏ chiến tranh, từ bỏ việc sử dụng vũ lực trong tranh chấp quốc tế; thừa nhận nền độc lập của Triều Tiên; từ bỏ chủ quyền của mình đối với Đài Loan, quần đảo Bành Hồ, quần đảo Kurils và Nam Sakhalin. Cũng trong bối cảnh hội nghị San Francisco, Hiệp ước an ninh song phương Mỹ-Nhật đã được ký kết. Mục tiêu cơ bản của thoả thuận này là hợp pháp hoá sự hiện diện quân đội và các căn cứ quân sự của Mỹ trên lãnh thổ Nhật Bản. Nhưng mục tiêu sâu xa của nó là chống chủ nghĩa cộng sản – một hiện tượng chính trị quốc tế đang lan rộng suốt từ Âu sang Á thời bấy giờ. Song đối với Nhật Bản, chống cộng hay chống Liên Xô hoặc Trung Quốc không bài trừ gì nhau; vì chung quy lại, vẫn là ba cường quốc Đông Bắc Á chưa giải quyết xong những món nợ lịch sử đã phải dính vào những tranh chấp ở hiện tại và tương lai.
	Trong bối cảnh chiến tranh lạnh, khi mà hai nước đối đầu là Liên Xô và Mỹ đều đang tìm cách để nâng cao sức mạnh, mở rộng tầm ảnh hưởng của mình, đồng thời kìm chế sức mạnh của đối phương thì việc tìm thêm cho mình một đồng minh là rất quan trọng. Để đối phó với Liên Xô và chủ nghĩa cộng sản đang ngày càng lớn mạnh, Mỹ và Nhật Bản đã chọn lựa cách liên minh với nhau. Đối với Mỹ thì Nhật Bản là một đồng minh quan trọng ở khu vực châu Á Thaí Bình Dương, là căn cứ tiền tiêu của Mỹ chống lại Liên Xô và các nước cộn

Tài liệu đính kèm:

  • docxBai_9_Quan_he_quoc_te_trong_va_sau_thoi_ki_Chien_tranh_lanh.docx