Giáo án Giáo dục quốc phòng (cả năm)

MỞ ĐẦU

Ngày nay đất nước ta đang trên đà phát triển và ngày càng khẳng định vị thế trên trường Quốc tế. Nhân dân ta đang sống trong Hoà bình, tuy chiến tranh đã lùi xa nhưng những tác hại của nó vẫn đang hằng ngày làm ảnh hưởng đến đời sống cuả nhân dân ta, do bom, đạn củ vẫn còn nằm trong lòng đất, đồng thời hiện nay các thế lực thù địch đang tập trung chống phá ta, nhằm tạo cớ để tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược, xoá bỏ chế độ XHCN ở nước ta. Từ các cuộc chiến đã xãy ra trên thế giới trong thời gian qua cho ta thấy được, cùng với sự phát triển của khoa học và công nghệ, các loại bom đạn sử dụng trong chiến tranh đã có các bước phát triển nhảy vọt, có sức công phá lớn, mức độ sát thương và độ chính xác cao.

Song song với những nguy cơ gây hại của bom, đạn là những hệ quả của sự tàn phá môi trường sống dẫn đến sự biến đổi phức tạp của khí hậu, thời tiết trên toàn cầu, các tác hại do thiên tai gây ra ngày càng nhiều, sức tàn phá ngày càng lớn.

Vì vậy chúng ta cần tìm hiểu và nắm được đặc điểm, tính năng của một số loại bom đạn, xây dựng ý thức bảo vệ môi trường sống. Luôn coi trọng việc phòng tránh, để giảm nhẹ hoặc loại trừ thiệt hại do bom đạn gây ra và xác định việc phòng, tránh giảm nhẹ thiên tai là cuộc đấu tranh sinh tồn của nhân dân ta.

Bài giảng được biên soạn theo giáo trình GDQP-AN dành cho lớp 10 và các tài liệu, tư liệu có liên quan về bom, đạn; thiên tai.

 

doc 16 trang Người đăng minhkhang45 Ngày đăng 02/03/2020 Lượt xem 979Lượt tải 0 Download
Bạn đang xem tài liệu "Giáo án Giáo dục quốc phòng (cả năm)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ác bom của Nga có vỏ bằng sắt, thân không thuôn như bom của Mỹ, thường được tạo thành bởi các mối hàn chồng nên rễ phân biệt với các bom của NATO.
> Năm 1946 Liên Xô đã phát triển một loạt các bom công dụng chung gồm: bom 250 kg (550 lb), bom 500 kg (1.100 lb), bom 1.500 kg (3.300 lb) và bom 3.000 kg (6.600 lb), có một ngòi ở đầu và một ngòi ở đáy. Bom có thể được thả từ độ cao 12.000 m (40.000 ft) và ở tốc độ bay 1.000 km/h (625 mph).
* Bom điều khiển:
Là các loại bom thường dùng trước đây, chúng được trang bị thêm các bộ điều khiển gắn ở trên bom. Một số loại phổ biến: các loại bom dẫn hướng bằng Laser, bom dẫn hướng bằng quang - điện hoặc gần đây nhất là loại dẫn hướng bằng GPS như JDAM của Hoa Kỳ. Một số loại có thể dùng kết hợp các phương pháp dẫn hướng ở trên, điều này càng làm tăng độ chính xác cho bom nhưng giá thành lại không lớn. Bom có khả năng bám mục tiêu và điều khiển quĩ đạo bay để diệt mục tiêu với độ chính xác cao, sai số trúng đích 5-10m, dưới đây là đặc điểm gây hại của một số loại bom đạn thường dùng:
- Bom CBU-24 : Là loại bom chùm dạng caxet rải bom bi dạng quả ổi (BLU-26) để sát thương, bom mẹ chứa 200 bom con nổ trên không rải bom con xuống mục tiêu, bom con có thể nổ ngay hoặc nổ chậm khi nổ tạo thành hình phễu đường kính 0,2 – 0,3m, sâu 0, 2m bán kính sát thương 10m.
- Bom CBU-55
+ Cỡ 500 bảng (225kg), lắp trên máy bay loại nhẹ như A-37, OV-10, UH-1 ở độ cao khoảng 600m, chứa 3 bom con BLU-73: dài 2,285m, khối lượng 235kg, đường kính 0,35m, mỗi bom con có khối lượng 45kg, chứa 32,6 kg nhiên liệu FAE là oxit etylen lỏng.
+ Mỹ dùng năm 1975 ở Xuân Lộc.
+ Bom CBU-55(còn gọi là bom phát quang): Là loại bom chùm dạng caxet, kiểu nổ xon khí chứa 3 bom con BLU -73. Khi nổ văng oxit etylen thành các đám mây xon khí có đường kính 15-17m, dày 2,5- 3m được kích nổ ở độ cao 1m, bán kính sát thương 50m. dùng để phát quang cây cối dọn bãi đổ bộ cho máy bay lên thẳng, hoặc dùng để gây tâm lý hoang mang cho đối phương bởi uy lực hủy diệt của chúng, cùng họ có bom BLU -82 được điều khiển bằng radar.
- Bom GBU-17: GBU- guided Bom Unit- chế tạo năm 1982 dài 3,6m đường kính 0,82m dùng cho máy bay F-4, F-111, sai số trúng đích 10m khả năng xuyên phá được các tấm bê tông dày 4,5m, có thể xuyên sâu vào đất 7,5m. Đầu nổ kép gồm lượng nổ lõm và nổ phá. Bom xuyên tự dẫn bằng Lade bán chủ động có đầu nổ kép kiểu lõm và phá dùng để đánh các công trình kiên cố như hầm ngầm, bê tông. Khi trúng mục tiêu, lượng nổ lõm tạo lỗ sâu để bom chui vào, sau đó ngòi nổ chậm hoạt động, kích nổ bom, được Mỹ sử dụng trong chiến tranh Vùng Vịnh (1990- 1991) Nam Tư (1999).
- Bom GBU-29/30/31/32/15JDAM: Là loại bom tiến công trực tiếp vào các mục tiêu kiên cố như cầu cống, sân bay, đài phát thanh, truyền hình. Bom dựa trên cơ sở bom phá MK-84 hoặc BLU-109, có khối lượng 2000 bảng. Bom được lắp hệ quán tính với thiết bị đo gia tốc dọc trục và kết hợp với hệ dẫn GPS để tăng độ chính xác. Cánh đuôi bom có thể di động để tăng khả năng phóng rải của bom. Độ chính xác 10-13m, cự ly ném bom 20 km. Dùng máy bay B-2 để mang (16 quả).
 - Bom hóa học : Là loại bom chứa các loại khí độc chủ yếu để sát thương sinh lực đối phương, kích thích chảy nước mắt, rát bỏng, ho, ngứa ngáy gây suy nhược thần kinh, chóng mặt nôn.
- Bom cháy: Sử dụng chất cháy (hỗn hợp Nhôm, Phốt Pho, Na pan hoặc các chất dễ cháy như: xăng, dầu hoả, Benzen, Toluen..) dưới dạng keo hoặc bột, là phương tiện sát thương sinh lực đối phương.
- Bom mềm: Bom chuyên dùng để đánh phá mạng lưới điện của đối phương, không sát thương sinh lực. Khi nổ tung ra không gian hàng trăm ngàn sợi graphit bám vào dây điện gây đoản mạch điện, phá hỏng các thiết bị và hệ thống điện.
- Bom điện từ: Bom chuyên dùng đánh phá các thiết bị điện tử. Khi nổ tạo ra trường điện từ cường độ lớn trong thời gian rất ngắn tác động vào các linh kiện vi mạch, bán dẫn, của các thiết bị điện phá huỷ các khí tài vô tuyến điện tử, máy tính, thiết bị quang điện, truyền hình.
- Bom Từ trường: MK-82 (500 bảng), 117 (750 bảng) dùng để đánh phá giao thông. Khi có sắt thép đi qua, ngòi nổ cảm nhận tạo tín hiệu điện gây nổ. Thời gian mở bảo hiểm từ 15 phút đến vài tháng, có thể tự huỷ 6- 8 tháng. 
c. Đạn dược thứ cấp.
- Đạn dược thứ cấp (sub-munition) là các loại bom bi, đạn, lựu đạn cỡ nhỏ được chứa trong các quả bom, đạn cỡ lớn (gọi là bom, đạn mẹ) hoặc được phóng ra từ các dàn phóng. Khi nổ bom đạn mẹ không có tác dụng với mục tiêu, chỉ có tác dụng ném đạn dược thứ cấp ra một vùng rộng lớn, tạo hiệu quả sát thương lớn hơn. Các quả đạn dược thứ cấp sau khi ra khỏi bom mẹ, đạn mẹ hoặc các dàn phóng sẽ văng ra các hướng khác nhau. Thông thường dưới tác dụng của luồng không khí, đạn dược thứ cấp sẽ quay và mở bảo hiểm đưa đạn dược thứ cấp về trạng thái chiến đấu. Một số loại đạn dược thứ cấp ngay khi ra khỏi đạn mẹ sẽ tự động mở bảo hiểm. Khi rơi xuống mục tiêu, đạn dược thứ cấp sẽ nổ gây sát thương (với đạn chống người) hay phá hủy các xe cơ giới (với đạn xuyên). Đạn dược thứ cấp thường rất nguy hiểm vì ngay khi ra khỏi bom mẹ đã mở bảo hiểm nên khi chúng ta chạm vào nó và hay di chuyển chúng sẽ nổ ngay, gây chết người, hoặc làm tàn phế. Các đạn chứa đạn dược thứ cấp khi nổ thông thường sẽ ném ra rất nhiều đạn dược cỡ nhỏ, khi rơi xuống đất một số quả nổ một số quả không nổ, khả năng còn sót lại là rất lớn, gây hậu quả nghiêm trọng ngay cả khi đã kết thúc chiến tranh.
- Trong chiến tranh Việt Nam, Mỹ đã sử dụng rất nhiều loại đạn thứ cấp mà điển hình là các loại bom bi, bom xuyên bắp ngô MK118. Hậu quả để lại sau chiến tranh rất lớn, khó khăn cho công tác phát hiện, dò tìm và xử lý. Trong các cuộc chiến tranh gần đây, Mỹ và đồng minh như Israel cũng sử dụng một lượng lớn các đạn dược thứ cấp chứa lựu đạn. Sau khi kết thúc chiến tranh để lại hậu quả nghiêm trọng cho dân thường. Gây khó khăn cả cho lực lượng làm nhiệm vụ gìn giữ hòa bình.
d. Các loại mìn
- Mìn đánh xe cơ giới
+ Mìn M-15
> Nướcsản xuất: Mỹ
> Công dụng: Phá đứt xích xe tăng hạng trung, phá huỷ các loại xe tải.
> Cấu tạo: Thân mìn và ngòi nổ. Khối lượng toàn bộ 14 kg, chứa 10,4 kg  thuốc nổ TNT. Ngòi nổ M - 603. 
> Nguyên lý hoạt động: Khi có lực135 ¸ 180kg đè lên nắp mìn, nắp mìn bị ấn xuống đè lên đuôi kim hoả, kim hoả đập vào hạt nổ, gây nổ kíp, nổ mìn.
+ Mìn M-19
> Nước sản xuất: Mỹ
> Công dụng: Phá đứt xích xe tăng hạng trung, phá huỷ các xe tải.
> Cấu tạo: Thân mìn và ngòi nổ. Khối lượng toàn bộ 12,7kg, chứa 9,5kg  thuốc nổ TNT  trộn bột nhôm. Ngòi nổ M-606. 
> Nguyên lý hoạt động: Khi có lực lớn hơn 135kg đè lên ngòi nổ, kim hoả chọc vào hạt nổ, làm nổ kíp, nổ mìn.
+ Mìn vỏ nhựa T-72.
> Nước sản xuất: Trung Quốc.
> Công dụng: Phá đứt xích xe tăng hạng trung.
> Cấu tạo: Thân mìn và ngòi nổ. Khối lượng toàn bộ 6,5 kg, chứa 5,4 kg  thuốc nổ TNT và RDX.
> Nguyên lý hoạt động: Khi có lực từ 100 - 200 kg đè vào làm nắp mìn sập xuống. Kim hoả được giải phóng chọc vào hạt nổ, gây nổ kíp, nổ thuốc nổ mồi, nổ mìn. 
Mìn M6A2.
> Nước sản xuất: Mỹ.
> Công dụng: chống tăng.
> Cấu tạo: Nắp mìn, thân mìn, ngòi nổ (M603); Khối lượng toàn bộ 9,1kg, chứa 4,45kg thuốc nổ TNT.
> Nguyên lý hoạt động: Khi có lực đè khoảng 160 đến 340kg, làm bẹp nắp mìn xuống, tác động vào ngòi nổ, làm nổ kíp, nổ mìn.
+ Mìn K-72
> Nước sản xuất: Trung Quốc.
> Công dụng: Chống tăng.
> Cấu tạo:  Thân mìn (vỏ bằng nhựa), ngòi nổ (chống sóng xung kích). Khối lượng toàn bộ 6,5kg, chứa 5,4kg thuốc nổ TNT/RDX (50/50).
> Nguyên lý hoạt động: Khi có lực khoảng 300 đến 800kg đè lên nắp mìn làm nắp mìn bẹp xuống, tác dụng vào ngòi nổ, gây nổ kíp, nổ mìn. 
- Mìn chống bộ binh
+ Mìn K- 69 (mìn nhảy).
> Nước sản xuất: Trung Quốc.
> Công dụng:  Sát thương người cự ly 10m bằng mảnh văng.
> Cấu tạo: Gồm thân mìn và ngòi nổ (đè và vướng nổ). Khối lượng toàn bộ 1,35kg, chứa 105g thuốc nổ TNT.
> Nguyên lý hoạt động: Khi có lực kéo lớn hơn 1,5kg hoặc lực đè lớn hơn 0,7kg mìn nhảy lên và nổ ở độ cao 0,8 đến 1,5m .
+ Mìn M-16A2.
> Nước sản xuất: Mỹ.
> Công dụng: Sát thương người bằng mảnh vụn. Bán kính sát thương dày đặc 12m, bán kính nguy hiểm 150m. 
> Cấu tạo: Thân mìn, ngòi nổ (M605). Khối lượng toàn bộ 2,83kg chứa 501g thuốc nổ TNT. 
> Nguyên lý hoạt động: Khi có lực từ 3 đến 5kg trở lên tác động vào 3 râu tôm, mìn nhảy lên và nổ ở độ cao 0,5-1m.
+ Mìn M2A1
> Nước sản xuất: Mỹ
> Công dụng: Sát thương sinh lực bằng mảnh vụn, bán kính sát thương 27m.
> Cấu tạo: Thân mìn, ngòi nổ M6A1 và M1. Khối lượng toàn bộ 2,2kg chứa 0,2kg thuốc nổ TNT.
> Nguyên lý hoạt động: Khi có lực đè  khoảng 5kg, mìn nhảy lên khỏi mặt đất rồi mới nổ.
+ Mìn K-58.
> Nước sản xuất: Trung Quốc.
> Công dụng: Sát thương người bằng uy lực thuốc nổ, bán kính sát thương 1 đến 1,5m.
> Cấu tạo: Gồm thân mìn và ngòi nổ.
> Nguyên lý hoạt động: Khi bố trí xong rút chốt an toàn sau thời gian từ 5 đến 7 phút thì chốt chì bị cắt đứt mìn vào tư thế chiến đấu. Khi có lực đè lớn hơn 7kg lên mặt mìn kim hoả được giải phóng chọc vào hạt nổ gây nổ kíp nổ mìn.
+ Mìn 652A
> Nước sản xuất: Trung quốc.
> Công dụng: Sát thương người bằng uy lực thuốc nổ, bán kính sát thương 1m. 
Cấu tạo:  Thân mìn và ngòi nổ, khối lượng toàn bộ 280g, chứa 46g RDX/TNT.
> Nguyên lý hoạt động: Khi có lực 5 - 7 kg đè lên mặt mìn, vòng đè đi xuống đè lên díp kim hoả, díp bật ngược chiều cong kéo kim hoả chọc vào hạt nổ gây nổ kíp, nổ thuốc mồi nổ mìn.
+ Mìn 652 B
> Nước sản xuất: Trung Quốc.
> Công dụng: Sát thương người bằng uy lực thuốc nổ, bán kính sát thương 1m.
> Cấu tạo: Thân mìn và ngòi nổ (điện); khối lượng toàn bộ 280g, chứa 46g thuốc nổ RDX/TNT.
> Nguyên lý hoạt động: Khi có lực đè từ 5 - 7kg lên  mặt mìn hoặc tác động làm mìn nghiêng đi, nối thông mạch điện gây nổ kíp và nổ mìn.
+ Mìn M-14.
> Nước sản xuất:  Mỹ.
> Công dụng: Sát thương người bằng uy lực thuốc nổ.
> Cấu tạo: Thân mìn và ngòi nổ. Khối lượng toàn bộ 100g, chứa 50g têtơrin
> Nguyên lý hoạt động: Khi có lực khoảng 6kg trở lên đè lên mặt mìn, mặt mìn đi xuống, làm bật ngược chiều cong của lò xo đĩa. Kim hoả chọc vào hạt nổ gây nổ kíp, nổ mìn.
+ Mìn M18A- 1.
> Nước sản xuất: Mỹ.
> Công dụng: Dùng uy lực thuốc nổ phóng viên bi về mặt hướng để sát thương người ngoài công sự. Phạm vi dày đặc theo hình quạt rộng 48 - 50m ở cự ly 35 - 50m. 
> Cấu tạo: Thân mìn, máy gây nổ, kíp nổ (kíp điện).
> Nguyên lý hoạt động: Khi điểm hoả, máy gây nổ sẽ tạo ra dòng điện gây nổ kíp, nổ mìn.
+ Mìn vướng nổ (CBU- 34; CBU- 42 mạng nhện).
> Nước sản xuất: Mỹ.
> Công dụng: Sát thương người phạm vi khống chế là 50 - 100m.
> Cấu tạo: Thùng chứa mìn gồm 30 hộp nhựa, mỗi hộp chứa 18 quả mìn mạng nhện. Tổng số mìn mạng nhện là 540 quả. 
> Nguyên lý hoạt động:  Mìn được thả từ trên máy bay khi rơi đến độ cao thích hợp, mìn mẹ được tách ra đẩy các hộp mìn đồng thời mìn con được tung ra trên diện rộng.
+ Mìn vướng nổ mạng nhện BLU- 54.
> Nước sản xuất: Mỹ.
> Công dụng: Sát thương người và súc vật.
> Cấu tạo: Thân mìn và ngòi nổ. Khối lượng toàn bộ 470g.
> Nguyên lý hoạt động: Mìn đang nằm ổn định nếu bị xê dịch, rung động thì bộ phận tiếp xúc rời khỏi vị trí ban đầu, dòng diện đốt kíp gây nổ kíp và nổ mìn. Mìn còn nổ do tự huỷ.
+ Mìn tai hồng
> Nước sản xuất: Mỹ.
> Công dụng: Sát thương người.
> Cấu tạo: Thân mìn, ngòi nổ. Khối lượng toàn bộ 29g.
> Nguyên lý hoạt động: Đến mục tiêu phi công ấn nút điện mìn được thuốc phóng đẩy ra. Mìn đã nằm trên mặt đất, nếu có lực đè khoảng 10kg lên cánh dày, kim hoả đập vào hạt nổ gây nổ kíp, nổ mìn.
+ Mìn vải XM 41E2
> Nước sản xuất: Mỹ.
> Công dụng: Sát thương người.
> Cấu tạo: Thân mìn bằng hai lớp vải, hai bên đặt hai túi vuông bằng nhựa đựng thuốc nổ cọ xát màu đen. Xung quanh thuốc nổ cọ xát nhồi thuốc nổ mạnh.
Nguyên lý hoạt động: Khi có lực 2 - 5kg đè lên mặt mìn tạo ra cọ xát làm mìn nổ.
2. Một số biện pháp phòng tránh thông thường.
a. Biện pháp phòng tránh trong thời bình: Hiện nay trên đất nước ta tuy không có chiến tranh nhưng bom , mìn và các loại đạn vẫn còn sót lại trong lòng đất ở khắp mọi nơi, vì vậy trong quá trình sản xuất hoặc xây dựng các công trình khi phát hiện các loại vật liệu nổ hoặc các vật lạ như: Bom bi, bom cam, lựu đạn, đạn M79 và các loại khác không được chạm vào nó, đánh dấu cảnh báo ở vị trí. Khi thấy một quả còn sót lại, có thể có những quả khác ở xung quanh đó, tránh chạm vào, đặc biệt là đùa nghịch với chúng và ném chúng ra xa, điều này rất nguy hiểm vì khi ra khỏi bom mẹ, hoặc các dàn phóng nó đã tự động mở bảo hiểm và đang ở trạng thái chiến đấu, phải giữ nguyên hiện trường đánh dấu bằng phương tiện giản đơn (cành cây, gạch đá) và báo cáo ngay nguời có trách nhiệm, để xử lý. tuyệt đối không làm thay đổi vị trí, cũng như tự động xử lý. Chỉ những lực lượng chuyên môn có kiến thức, có kinh nghiệm và hiểu biết rõ về cấu tạo, nguyên lý hoạt động mới được tiến hành xử lý.
b. Biện pháp phòng tránh trong thời chiến.
* Tổ chức trinh sát, thông báo, báo động
- Mục đích là nhằm phát hiện các hoạt động đánh phá của máy bay địch để kịp thời thông báo, báo động cho nhân dân phòng tránh. 
- Tín hiệu báo động được phát bằng còi ủ, loa truyền thanh, trên vô tuyến hình và các phương tiện thông tin đại chúng khác, kết hợp với các phương tiện thô sơ như trống mõ, kẻng... Do ban chỉ đạo công tác phòng không nhân dân ở từng khu vực đảm nhiệm
* Ngụy trang, giữ bí mật chống trinh sát của địch.
- Nêu cao tinh thần cảnh giác giữ bí mật mục tiêu và các khu sơ tán.
- Nguỵ trang kết hợp nghi binh đánh lừa không để lộ mục tiêu, chống trinh sát của địch. Ngụy trang, nghi binh là một biện pháp hữu hiệu nhất chống lại các phương tiện trinh sát của địch, lấy cái giả làm loạn cái thật là một phép màu chiến thắng của một nước có trình độ khoa học và công nghệ còn thấp kém như Việt Nam để chống lại cuộc chiến tranh công nghệ cao của đối phương trong tương lai, do đó cần phải làm tốt các công việc sau:
+ Triệt để lợi dụng địa hình, địa vật, thời tiết sương mù thực hiện ngụy trang thiên nhiên (khe núi, hang động ...)
+ Sơn phủ lên các thiết bị nặng bằng lớp sơn loang nổ, làm thay đổi dạng mục tiêu, giảm sự khác biệt giữa mục tiêu và môi trường xung quanh, làm cho địch khó phát hiện ra các mục tiêu thật của ta.
+ Ngụy trang bằng thực vật, tức là trồng cây cối lên các mục tiêu, triệt để lợi dụng các rừng cây tự nhiên che phủ. Dùng cành cây tươi ngụy trang tạm thời cho người và vũ khí, hầm đào công sự, thay đổi cành cây tươi hàng ngày tránh địch phát hiện từ trên không.
+ Sử dụng các mạng lưới ngụy trang tự chế phủ lên các mục tiêu phải bảo vệ.
+ Sử dụng màn khói tự tạo để che phủ mục tiêu khi có dấu hiệu bị địch trinh sát.
- Thực hiện nghiêm các qui định về phòng gian giữ bí mật do ban chỉ đạo công tác phòng không nhân dân qui định. 
* Làm hầm hố phòng tránh.
- Để phòng tránh tác hại của bom đạn địch thì tuỳ theo tình hình cụ thể Ban chỉ đạo công tác phòng không nhân dân ở từng địa phương tổ chức triển khai đào hầm hố, giao thông hào, đắp tường chắn cho lớp học, nhà xưởng, bệnh viện; ở từng gia đình, trên đường đi, nơi công cộng, nơi làm việc học tập và công tác.
- Khi có báo động mọi người không có nhiệm vụ cần nhanh chóng xuống hầm trú ẩn ở nơi gần nhất, một cách trật tự, không hoảng loạn, chạy đi chạy lại dễ làm lộ mục tiêu, tránh nhiều người trong một gia đình trú cùng một chỗ.
- Khi không kịp xuống hầm phải lợi dụng địa hình, địa vật, như bờ ruộng, gốc cây, mô đất, rãnh nước khi nghe bom rít phải che tay dưới ngực, miệng hơi há để giảm bớt sức ép của bom đạn.
* Sơ tán phân tán các nơi tập trung đông dân cư, các khu công nghiệp khu chế xuất, tránh tụ họp đông người.
Tổ chức tốt việc sơ tán người, của cải ra xa các mục tiêu lớn địch có thể đánh phá, nhằm giảm bớt tới mức thấp nhất thiệt hại do bom đạn địch gây ra, đây là công việc vô cùng khó khăn và phức tạp ảnh hưởng rất lớn đến, sản suất và đời sống của nhân dân, vì vậy mọi người phải khắc phục khó khăn, tích cực tự giác tham gia, cũng như tuyên truyền vận động nhân dân thực hành sơ tán theo qui định của chính quyền địa phương.
* Đánh trả.
Dự kiến một số đường bay có thể của đối phương, tổ chức lực lượng phòng không địa phương, bằng các trang bị sẵn có, súng phòng không, súng máy bố trí hợp lý theo kế hoạch chung của địa phương để đánh trả các loại tên lửa hành trình và máy bay tàng hình bay thấp. Việc đánh trả tiến công đường không của địch là góp phần cho phòng tránh được an toàn, do lực lượng vũ trang đảm nhiệm. Để duy trì cho lực lượng chiến đấu được liên tục lâu dài, công tác bảo đảm, phục vụ chiến đấu phải được toàn dân tham gia, tuỳ theo khả năng và điều kiện của mỗi người. 
* Khắc phục hậu quả.
- Tổ chức cứu thương: Từng gia đình, cá nhân tự cứu là chính, nhanh chóng báo cho các đội cấp cứu biết để nhanh chóng đưa người bị nạn đến nơi an toàn.
- Tổ chức lực lượng cứu sập, cứu hoả, cứu hộ trên sông: khi có sự cố (sập hầm, cháy nhà.... nhanh chóng báo cho đội chuyên trách biết. Trong khi chờ đợi phải tìm cách cứu người trước, tổ chức đào bới tìm kiếm người bị nạn, cách li khu vực cháy, không cho lan rộng, dùng đất cát lấp những mảnh bom cháy dở...
- Đối với bom Na pan: Dùng đất cát hoặc bao tải, chăn chiếu nhúng nước trùm lên đám cháy. Nếu đám cháy nhỏ thì dùng cành cây tươi để dập tắt. nếu Na pan đang cháy bám lên quần áo, da người thì dùng chăn màn nhúng nước trùm lên chỗ bị cháy hoặc có thể nhanh chóng cởi quần áo.
- Đối với bom Phốt pho: Phốt pho là chất độc, vì vậy khi chữa cháy cần phải chuẩn bị dụng cụ phòng độc như găng tay, khẩu trang dùng nước với lượng lớn để dập tắt hoặc dùng xẻng xúc các mảnh Phốt pho đang cháy dở đổ vào hố, vũng nước, nếu không may bị dính vào người phải bình tĩnh dùng que quấn bông hoặc vải gạt nhẹ ra không được xiết mạnh, làm cho Phốt Pho ngấm sâu vào cơ thể, có thể thấm vết bỏng bằng dung dịch phèn xanh (sun phát đồng) tỉ lệ 2%, sau đó đến bệnh viện hoặc trạm xá gần nhất. 
- Chôn cất người chết, phòng tránh dịch bệnh, làm vệ sinh môi trường,giúp đỡ gia đình có người bị nạn, ổn định đời sống.
- Khôi phục sản xuất, sinh hoạt bình thường. 
II. THIÊN TAI, TÁC HẠI CỦA CHÚNG VÀ CÁCH PHÒNG TRÁNH
1. Đặc điểm của một số thiên tai.
a. Trong lòng đất
- Động đất: Phá sập nhà cửa, các công trình xây dựng.
- Sóng thần: Phá huỷ các công trình trên biển, ven biển.
- Núi lửa: Phun nham thạch.
- Nứt lớn: Phá huỷ các công trình.
b. Trong không gian
- Va chạm của thiên thạch.
- Hiệu ứng nhà kính.
2. Nguyên nhân các thảm hoạ trong không gian
- Các thiên thạch trong quá trình chuyển động trong không gian có thể xảy ra va chạm vào nhau. Nếu có một thiên thạch nào đó va chạm vào trái đất thì vụ nổ cực lớn sẽ sảy ra.
- Hiệu ứng nhà kính khí quyển: các bức xạ sóng ngắn của mặt trời xuyên qua khí quyển trái đất và một phần bị phản xạ trở lại thành các bức xạ nhiệt sóng dài. Một số phần tử trong bầu khí quyển có thể hấp thụ bức xạ này qua đó giữ hơi ấm lại trong bầu khí quyển làm tăng nhiệt độ trái đất.
- Ngày nay, con người trong quá trình sản xuất công nghiệp đã thải một lượng lớn các khí như CO2, Mêtan (CH4) làm tăng hiệu ứng nhà kính.
- Hậu quả: mưa bão, lũ lụt, hạn hán, khí quyển ô nhiễm, nước biển dâng cao
3. Nguyên nhân của các thảm hoạ trong lòng đất
Trái đất là một thiên thể trong hệ mặt trời được cấu tạo từ sự tích tụ của bụi vũ trụ hàng tỷ năm. Trong lòng trái đất chứa một khối nhiệt cực lớn và không ổn định. Sự vận động của trái đất là không ngừng. Vì vậy, trong thời gian tồn tại của trái đất không thể tránh khỏi những sự cố; những vụ nổ, phun trào nham thạch
4. Các loại thiên tai chủ yếu ở việt Nam.
- Vị trí địa lý: nằm trong vùng nội chí tuyến, giáp Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Chịu tác động trực tiếp của hoàn lưu gió nên khí hậu dạng nhiệt đới gió mùa.
- Địa hình rừng núi nhiều, dải miền trung hẹp và dốc dẫn tới khí hậu chia làm 5 vùng khác nhau: Miền Bắc, Đông Trường Sơn, Tây Nguyên, Nam Bộ, Biển Đông
a. Áp thấp nhiệt đới
Là hiện tượng thay đổi ấp suất lớn trong không khí, tạo sự chuyễn động mạnh của không khí “gió”. Là từ nơi có âp suất cao đến nơi có áp suất thấp, với sức gió cấp 6 đến cấp 7 (từ 39 – 61 km/h). Áp suất nhiệt đới làm ảnh hưởng lớn đến đời sống sinh hoạt của nhân dân. Nó thường phát triển thành bão có kèm theo mưa lớn.
b. Bão.
- Bão là một trong những loại hình thiên tai chủ yếu và nguy hiểm ở Việt Nam, bão vào thường gặp lúc triều cường nước biển dâng cao,kèm theo mưa lớn kéo dài, gây lũ lụt.
- Nước ta nằm ở khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương là một trong những vùng bão với số lượng lớn và cường độ mạnh với xu thế ngày càng gia tăng. 
c. Lũ lụt
- Lũ các sông Bắc Bộ thường xuất hiện sớm so với vùng khác hàng năm trung bình có đến 3-5 trận lũ, thời gian kéo dài từ 8-15 ngày.
- Lũ các sông miền Trung các sông từ Thanh Hoá đến Hà Tĩnh xuất hiện từ tháng 6 đến tháng 10 các sông từ Quảng Bình đến Bình Thuận xuất hiện từ tháng 9 đến tháng 12, đây là khu vực có hệ thống sông ngắn, dốc, lũ lên nhanh, xuống nhanh, các sông ở khu vực này có hệ thống ngăn lũ thấp hoặc không có đê. Nước lũ không chỉ chảy trong dòng chính mà còn chảy tràn qua đồng bằng.
- Lũ các sông khu vực Tây Nguyên thường mang đặc điểm lũ núi, lũ quét.
- Lũ các sông miền Đông Nam Bộ do cường độ mưa lớn, có lớp phủ thực vật và rừng nguyên sinh phong phú nên lũ không lớn nhưng kéo dài.
- Lũ các sông đồng bằng sông Cửu Long: thường diễn biến chậm, nhưng kéo dài suốt thời gian từ 4-5 tháng làm ngập hầu hết toàn bộ vùng đồng bằng sông Cửu Long.
d. Lũ quét và bùn đá
- Thường xảy ra ở vùng đồi núi, nơi có độ dốc lớn, cường độ mưa lớn mà đường thoát nước bất lợi.
- Lũ quét cũng có thể xảy ra do vỡ hồ chứa nhỏ, sạt lở đất lấp dòng chảy.
- Lũ quét xảy ra thường bất ngờ trong phạm vi hẹp nhưng khốc liệt gây những thiệt hại nghiêm trọng về người và của.
đ. Ngập úng
Ngập úng do mưa lớn gây ra, tuy ít gây tổn thất về người, nhưng ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp và môi trường sinh thái.
e. Hạn hán và sa mạc hoá
Là loại thiên tai đứng thứ 3 về mức độ thiệt

Tài liệu đính kèm:

  • docGiao an ca nam_12232844.doc