Tiểu luận Vai trò lãnh đạo của Đảng trong cách mạng tháng Tám năm 1945 và sự vận dụng trong giai đoạn hiện nay

A.PHẦN MỞ ĐẦU

1.Lý do chọn đề tài.

 Việt Nam đã đi qua chiến tranh hơn 40 năm. Bây giờ chúng ta đang sống trong hòa bình, ấm no, hạnh phúc, không còn nỗi lo bom mìn, cái chết ngoài chiến trận hay sống trong cảnh “nước mất, nhà tan”. Để có được thành quả như ngày hôm nay, chúng ta phải kể đến tinh thần đoàn kết, kiên cường, bất khuất của toàn thể dân tộc Việt Nam và hơn hết đó là sự lãnh đạo tài ba, mưu lược của Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự lãnh đạo của Đảng nước ta không phải là dùng quyền lực, dùng sự áp đặt đối với quần chúng nhân dân mà do nhân dân thừa nhận và tự nguyện thực hiện. Bởi vậy, Đảng đã đoàn kết được toàn thể nhân dân cùng nhân dân thực hiện mọi nhiệm vụ của từng thời đại.

 Có thể nói rằng lịch sử thăng hoa của đất nước ta gắn liền với lịch sử thăng trầm của Đảng. Từ khi thành lập Đảng đến nay, Đảng luôn lấy ánh sáng của chủ nghĩa Mác- Lê – nin soi đường, phát triển và vận dụng sáng suốt vào hoàn cảnh đất nước Việt Nam, đem lại nhiều thắng lợi to lớn trong đó có thắng lợi của cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945. Cách mạng tháng Tám thành công đã mở ra cho dân tộc Việt Nam một trang sử mới- trang sử của những người xóa bỏ xiềng xích nô lệ trở thành người làm chủ đất nước. Cũng từ đây nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Cái tên Việt Nam xuất hiện trên bản đồ thế giới và được thế giới công nhận như một quốc gia độc lập. Đó cũng là bước đệm quan trọng để sau này chúng ta thực hiện cuộc chiến tranh chính nghĩa, bảo vệ độc lập dân tộc khi có giặc ngoại xâm. Qua thắng lợi vang dội ấy ta mới thấy được rằng: dấu ấn của Đảng trong vai trò lãnh đạo, khắc sâu trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Chiến thắng năm ấy đã đi vào lịch sử dân tộc hơn 70 năm nhưng những bài học quý báu trong đường lối lãnh đạo của Đảng vẫn còn mang giá trị đến ngày hôm nay, vẫn luôn được Đảng vận dụng và phát huy trên mọi lĩnh vực góp phần xây dựng Việt Nam ngày một giàu mạnh, tươi đẹp hơn.

 Xuất phát từ những lý do trên, tôi nghiên cứu đề tài “Vai trò lãnh đạo của Đảng trong cách mạng tháng Tám năm 1945 và sự vận dụng trong giai đoạn hiện nay”.

 

docx 18 trang Người đăng hanhnguyen.nt Ngày đăng 22/12/2020 Lượt xem 9891Lượt tải 18 Download
Bạn đang xem tài liệu "Tiểu luận Vai trò lãnh đạo của Đảng trong cách mạng tháng Tám năm 1945 và sự vận dụng trong giai đoạn hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
n án chế độ thực dân Pháp”, xuất bản năm 1925. Đây là một công trình nghiên cứu về bản chất của chủ nghĩa thực dân, thức tỉnh và cổ vũ nhân dân các nước thuộc địa đứng lên tự giải phóng.
Tháng 6-1923, Nguyễn Ái Quốc từ Pháp sang Liên Xô, Người làm việc trong Quốc tế Cộng sản. Tháng 10 năm 1923, tại Hội nghị Quốc tế Nông dân lần thứ nhất, Nguyễn Ái Quốc được bầu vào Hội đồng Quốc tế Nông dân. Người là đại biểu duy nhất của nông dân thuộc địa được cử vào Đoàn Chủ tịch của Hội đồng. Người tham dự Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ V, Đại hội Quốc tế Cộng sản Thanh niên lần thứ IV, Đại hội Quốc tế Công hội đỏ. Người kiên trì bảo vệ và phát triển sáng tạo tư tưởng của V.I. Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, hướng sự quan tâm của Quốc tế Cộng sản tới phong trào giải phóng dân tộc.
Tháng 11 năm 1924 với tư cách là Uỷ viên Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản và Uỷ viên Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân, Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu (Trung Quốc). Tại Quảng Châu Nguyễn Ái Quốc vừa làm việc trong đoàn cố vấn Bôrôđin của Chính phủ Liên Xô bên cạnh Chính phủ Tôn Dật Tiên; vừa tìm hiểu và tiếp xúc với những người Việt Nam đang hoạt động tại đây. Nguyễn Ái Quốc đã chọn một số thanh niên Việt Nam yêu nước, trực tiếp mở lớp huấn luyện đào tạo cán bộ cách mạng. Các bài giảng của Người được tập hợp in thành cuốn sách “Đường Kách mệnh” - một văn kiện lý luận quan trọng đặt cơ sở tư tưởng cho đường lối cách mạng Việt Nam.
Năm 1925, Người thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, ra tuần báo “ Thanh niên ”, tờ báo cách mạng đầu tiên của Việt Nam nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin về Việt Nam, chuẩn bị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
Báo “Thanh niên ” của Hội do Nguyễn Ái Quốc sáng lập, ra số đầu tiên ngày 21-6-1925.
Đầu năm 1927, tác phẩm “Đường kách mệnh ”, gồm những bài giảng của Nguyễn Ái Quốc ở các lớp huấn luyện tại Quảng Châu, được xuất bản.
Báo “Thanh niên” và tác phẩm “Đường kách mệnh” đã trang bị lý luận cách mạng giải phóng dân tộc cho cán bộ của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên để tuyên truyền đến giai cấp công nhân và các tầng lớp nhân dân Việt Nam.
Sự phát triển của phong trào công nhân, phong trào yêu nước và sự ra đời của 3 tổ chức Cộng sản ở Việt Nam.
 Từ khi Hội Việt Nam Cách mạnh Thanh niên ra đời, phong trào công nhân, phong trào yêu nước ở Việt Nam có nhiều chuyển biến tích cực.
 Năm 1928, thực hiện chủ trương “vô sản hóa”, nhiều cán bộ của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên về nước, đi vào các nhà máy, hầm mỏ, đồn điền, cùng sinh hoạt và làm việc với công nhân để tuyên truyền vận động cách mạng, nâng cao ý thức chính trị cho giai cấp công nhân. Phong trào công nhân vì thế phát triển mạnh mẽ và trở thành nòng cốt của phong trào dân tộc cả nước. Đấu tranh của công nhân đã nổ ra trong cả nước, tiêu biểu là cuộc bãi công của công nhân xưởng Ba Son do Tôn Đức Thắng lãnh đạo. Họ tiến hành bãi công một thời gian dài với mục đích là làm chậm việc sửa chữa chiếc tàu Misơlê (Michelet) mà thực dân Pháp dùng chở lính sang đàn áp phong trào cách mạng Trung Quốc. Ngày 4-8-1925, cuộc bãi công nổ ra với yêu sách "tăng 20% lương, đưa số thợ bị đuổi trở lại làm việc và giữ lệ nghỉ 30 phút vào ngày lãnh lương". Để đảm bảo thắng lợi, ban lãnh đạo Công hội đã vận động công nhân, viên chức trong thành phố ủng hộ vật chất và tinh thần cho công nhân Ba Son. Sau 8 ngày đấu tranh, cuộc bãi công đã giành được thắng lợi. Cuộc bãi công Ba Son tháng 8-1925 là cuộc đấu tranh đầu tiên có tổ chức và lãnh đạo. Hơn thế nữa, cuộc đấu tranh không chỉ nhằm mục tiêu kinh tế mà còn nhằm vào mục đích chính trị thể hiện tình đoàn kết vô sản quốc tế của công nhân Việt Nam. Với tính chất đó, cuộc bãi công Ba Son vạch một mốc lớn trong phong trào công nhân Việt Nam - giai cấp công nhân Việt Nam bắt đầu đi vào đấu tranh có tổ chức và mục đích chính trị rõ ràng. Từ đây phong trào công nhân chuyển từ tự phát sang tự giác.
Không chỉ phong trào công nhân, phong trào yêu nước cũng phát triển mạnh mẽ. Các cuộc biểu tình của nông dân, tiểu thương, tiểu chủ, học sinh diễn ra trong cả nước.
Từ cuối 1928 đến đầu 1929, phong trào dân tộc dân chủ ở nước ta đặc biệt là phong trào công nhân, nông dân theo con đường cách mạng vô sản phát triển mạnh mẽ trong đó Bắc Kỳ là nơi có phong trào cách mạng phát triển mạnh so với các vùng khác trong cả nước. Sự phát triển của phong trào cách mạng đòi hỏi phải được tổ chức và lãnh đạo cao hơn. Trước tình hình đó, Hội Việt Nam cách mạng thanh niên không còn đủ sức để lãnh đạo nữa, cần phải thành lập một Đảng cộng sản để tổ chức và lãnh đạo giai cấp công nhân, giai cấp nông dân cùng các lực lượng yêu nước đấu tranh chống đế quốc, phong kiến, tay sai giành độc lập dân tộc.
Cuối tháng 3/1929, một số hội viên tiên tiến của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên ở Bắc Kỳ, trong đó có Ngô Gia Tự và Nguyễn Đức Cảnh đã họp ở số 5D phố Hàm Long (Hà Nội) để lập ra chi bộ cộng sản đầu tiên ở Việt Nam gồm 7 người, tích cực chuẩn bị tiến tới thành lập một Đảng Cộng sản thay thế cho Hội Việt Nam cách mạng thanh niên.
Tại đại hội toàn quốc lần thứ 1 của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên (5/1929) khi kiến nghị của mình đưa ra về việc thành lập Đảng cộng sản không được chấp nhận, đoàn đại biểu Bắc Kỳ đã rút khỏi hội nghị về nước, rồi ra lời kêu gọi công nhân, nông dân, các tầng lớp nhân dân cách mạng nước ta ủng hộ chủ trương thành lập Đảng cộng sản.
Ngày 17/6/1929 đại biểu các tổ chức cơ sở cộng sản ở miền Bắc họp đại hội, quyết định thành lập Đông Dương cộng sản Đảng thông qua tuyên ngôn, điều lệ của Đảng, ra báo “Búa liềm” làm cơ quan ngôn luận. Đông Dương cộng sản Đảng ra đời đáp ứng yêu cầu bức thiết của quần chúng nên được nhiệt liệt hưởng ứng, uy tín và tổ chức của Đảng phát triển mạnh, nhất là ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ.
Sự thành lập của Đông Dương cộng sản Đảng đã tạo đà trực tiếp với sự ra đời các tổ chức cộng sản tiếp theo. Tháng 7/1929 tổng bộ thanh niên cùng kì bộ Nam Kỳ của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên quyết định thành lập An Nam cộng sản Đảng. An Nam cộng sản Đảng ra tờ “báo đỏ” ở Hương Cảng – Trung Quốc để tuyên truyền về trong nước. Tháng 11/1929 An Nam cộng sản Đảng đã họp đại hội thông qua đường lối chính trị, bầu Ban Chấp hành Trung ương của Đảng.
Sự phân hóa trong Hội Việt Nam cách mạng thanh niên dẫn tới sự ra đời của hai tổ chức cộng sản: Đông Dương cộng sản Đảng ( 6/1929) và An Nam cộng sản Đảng ( 7/1929). Cũng từ đó xu hướng xã hội chủ nghĩa ngày càng lôi cuốn những đảng viên tiên tiến trong Tân Việt cách mạng Đảng. Các đảng viên tiên tiến ấy từ lâu chịu ảnh hưởng của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên nay cũng tách ra để thành lập Đông Dương cộng sản liên đoàn (9/1929). Đây cũng là một bước phát triển mới của tổ chức này từ một đảng Tiểu tư sản chịu ảnh hưởng của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên có xu hướng vô sản nay đã phân hóa chuyển thành Đảng cộng sản.
Như vậy, chỉ trong vòng không đầy bốn tháng (từ tháng 6 đến 9/1929) đã có 3 tổ chức cộng sản lần lượt ra đời ở nước ta.
Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam và ý nghĩa của việc thành lập Đảng.
Sự ra đời của 3 tổ chức cộng sản cho thấy chủ nghĩa Mác- Lê nin đã được truyền bá sâu rộng vào Việt Nam. Thế nhưng các tổ chức đó đều hoạt động riêng rẽ, tranh giành ảnh hưởng với nhau, làm cho phong trào cách mạng trong nước có nguy cơ bị chia rẽ lớn, việc cấp thiết lúc này là phải hợp nhất các tổ chức cộng sản trong nước lại. Nhận được tin này, Nguyễn Ái Quốc rời khỏi Xiêm, sang Trung Quốc để thống nhất các tổ chức cộng sản. Với cương vị là phái viên của Quốc tế Cộng sản, có quyền quyết định mọi vấn đề liên quan tới phong trào cách mạng ở Đông Dương, Nguyễn Ái Quốc chủ động triệu tập đại biểu của Đông Dương Cộng sản đảng và An Nam Cộng sản đảng đến Cửu Long (Trung Quốc) để bàn việc hợp nhất.
Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản bắt đầu họp từ ngày 6-1-1930 tại Cửu Long do Nguyễn Ái Quốc chủ trì. Hội nghị đã thảo luận và nhất trí thống nhất các tổ chức cộng sản thành một đảng duy nhất lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam, thông qua “Chính cương vắn tắt”, “Sách lược vắn tắt của Đảng” . Đây là bản “ Cương lĩnh chính trị đầu tiên ” của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là kết quả của cuộc đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp quyết liệt của nhân dân Việt Nam, là sản phẩm của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác- Lê nin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam trong thời đại mới. Việc thành lập Đảng là một bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử cách mạng Việt Nam. Từ đây, cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân ta đặt dưới sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam, một đảng có đường lối cách mạng khoa học và sáng tạo, có tổ chức chặt chẽ, có đội ngũ đảng viên kiên trung, nguyện suốt đời hi sinh cho lý tưởng của Đảng, cho độc lập của dân tộc, cho tự do của nhân dân. Đảng ra đời là sự chuẩn bị tất yếu đầu tiên có tính quyết định cho những bước phát triển nhảy vọt mới trong lịch sử dân tộc.
CHƯƠNG 2. VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG TRONG CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945 VÀ SỰ VẬN DỤNG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY.
2.1. Chỉ đạo chuyển hướng chiến lược trong giai đoạn 1939-1945
 Từ năm 1939, tình hình trong nước và thế giới có nhiều biến động.
 Trong nước, Ngày 28-9-1939, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định cấm cộng sản, đóng cửa các tờ báo và nhà xuất bản, cấm hội họp và tụ tập đông người. Thực dân Pháp thi hành chính sách thời chiến rất tàn bạo, thủ tiêu quyền tự do, dân chủ giành được trong thời kỳ 1936-1939Lợi dụng Pháp đầu hàng Đức, ngày 22-9-1940 phát xít Nhật tấn công Lạng Sơn rồi đổ bộ vào Hải Phòng .Ngày 23-9-1940, Pháp ký hiệp định đầu hàng Nhật. Mâu thuẫn giữa dân tộc ta với đế quốc, phát xít Pháp – Nhật trở nên gay gắt hơn bao giờ hết.
Tình hình thế căng thẳng và diễn biến phức tạp. Tháng 9-1939, chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ. Chính phủ Pháp thi hành biện pháp đàn áp lực lượng dân chủ trong nước và phong trào cách mạng ở thuộc địa. Mặt trận nhân dân Pháp tan vỡ. Đảng Cộng sản Pháp bị đặt ra ngoài vòng pháp luật. Tháng 6-1940, Chính phủ Pháp đầu hàng Đức. Ngày 22-6-1941, quân phát xít Đức tấn công Liên Xô. Từ khi phát xít Đức xâm lược Liên Xô, tính chất của chiến tranh dần thay đổi, từ chiến trang đế quốc sang chiến trang giữa các lực lượng dân chủ do Liên Xô làm trụ cột với các lực lượng phát xít do Đức cầm đầu.
Trước tình hình đó, Ban Chấp hành Trung Ương Đảng đã họp, thông qua hai kỳ Hội nghị lần thứ 6 (tháng 11- 1939), Hội nghị lần thứ 7 (tháng 5-1941) chuyển hướng chỉ đạo chiến lược.
Một là, đưa nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu. Đảng xác định rõ mâu thuẫn chủ yếu ở nước ta đòi hỏi phải giải quyết cấp bách là mâu thuẫn giữa dân tộc ta với bọn đế quốc, phát xít Pháp - Nhật. Tạm gác khẩu hiệu “đánh đổ địa chủ, chia ruộng đất cho dân cày”, thay bằng khẩu hiệu “ tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc và Việt gian cho dân cày”, “Chia lại ruộng đất công, giảm tô, giảm tức”.
Hai là, quyết định thành lập Mặt trận Việt Minh để đoàn kết, tập hợp lực lượng cách mạng nhằm giải phóng dân tộc.
Ba là, quyết định xúc tiến chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang là nhiệm vụ trung tâm của Đảng và nhân dân ta trong giai đoạn hiện tại. Để đưa cuộc khởi nghĩa vũ trang đi đến thắng lợi, cần phải ra sức phát triển lực lượng cách mạng, bao gồm cả lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang, xúc tiến xây dựng căn cứ địa cách mạng. Ban chấp hành Trung ương xác định phương châm và hình thái khởi nghĩa ở nước ta: “ phải luôn chuẩn bị một lực lượng sẵn sàng, nhằm vào cơ hội thuận tiện hơn cả đánh lại quân thùvới lực lượng sẵn có, ta có thể lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa từng phần trong từng địa phương cũng có thể giành thắng lợi mà mở đường cho một cuộc tổng khởi nghĩa to lớn”. Ban Chấp hành Trung ương còn đặc biệt chú trọng công tác xây dựng Đảng nhằm nâng cao năng lực tổ chức và lãnh đạo của Đảng, đồng thời chủ trương gấp rút đào tạo cán bộ, cán bộ lãnh đạo, cán bộ nông vận, công vận, binh vận, quân sự và đẩy mạnh công tác vận động quần chúng.
2.2. Chuẩn bị mọi mặt cho khởi nghĩa 
2.2.1. Xây dựng lực lượng chính trị
 Một trong những nhiệm vụ cấp bách của Đảng là vận động quần chúng tham gia Việt Minh. Cao Bằng là nơi thí điểm cuộc vận động xây dựng các hội Cứu quốc trong Mặt trận Việt Minh. Đến năm 1942, khắp các châu ở Cao Bằng đều có Hội Cứu quốc. Tiếp đó, Ủy ban Việt Minh tỉnh Cao Bằng và Ủy ban Việt Minh lâm thời liên tỉnh Cao- Bắc- Lạng được thành lập. Đảng cũng tăng cường công tác vận động binh lính Việt trong quân đội Pháp, những ngoại kiều ở Đông Dương đấu tranh chống phát- xít.
2.2.2. Xây dựng lực lượng vũ trang 
 Cùng với việc xây dựng lực lượng chính trị, công tác xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng cũng được Đảng đặc biệt chú trọng. Sau khi cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn thất bại, theo chủ trương của Đảng, một bộ phận lực lượng vũ trang khởi nghĩa chuyển sang xây dựng thành đội du kích, hoạt động ở căn cứ địa Bắc Sơn – Võ Nhai. Bước sang năm 1941, những đội du kích Bắc Sơn lớn mạnh lên và thống nhất thành Trung đội Cứu quốc quân I. Cứu quốc quân I hoạt động được 8 tháng thì phân tán lực lượng để tránh sự càn quét của quân địch, chỉnh đốn lực lượng, gây dựng cơ sở chính trị trong quần chúng tại các tỉnh Thái Nguyên, Tuyên Quang, Lạng Sơn. Ngày 15-9-1941 Trung đội cứu quốc quân II ra đời.
2.2.3. Xây dựng căn cứ địa cách mạng 
Công tác xây dựng căn cứ địa cũng là một bộ phận quan trọng trong quá trình chuẩn bị khởi nghĩa. Vùng Bắc Sơn- Võ Nhai được xây dựng thành căn cứ chính. Năm 1941, Nguyễn Ái Quốc về nước chọn Cao Bằng là căn cứ địa cách mạng thứ hai trong cả nước.
2.2.4. Xác định thời cơ và chớp thời cơ trong cách mạng tháng Tám.
Trong đánh trận, cho dù ở thời đại nào đi nữa, chọn thời cơ cũng là một nghệ thuật. Nghệ thuật ấy thể hiện sự tài ba, mưu lược và cả chiến lược nữa. Cuộc đấu tranh giành độc lập ở Việt Nam cũng không ngoại lệ, song song với việc chuẩn bị mọi mặt cho khởi nghĩa, Đảng ta vẫn rất quan tâm đến việc chọn thời cơ cách mạng. Đảng nhận thấy chuẩn bị tốt đến đâu nhưng chọn sai thời cơ thì vẫn thất bại. Thế nên, Đảng luôn quan sát, phân tích tình hình trong và ngoài nước để khởi nghĩa nổ ra thích hợp nhất.
Với quyết tâm phải giành cho được tự do, độc lập, Ðảng chỉ đạo tích cực xây dựng lực lượng cách mạng trước hết tập trung xây dựng lực lượng chính trị rộng khắp của quần chúng, đồng thời xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng; chủ động đón thời cơ, nổi dậy giành chính quyền, khởi nghĩa từng phần, tiến tới tổng khởi nghĩa. Ðể hoàn thành được nhiệm vụ đó, Ðảng quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập Ðồng minh (tức Việt Minh), đưa ra Chương trình Việt Minh, kêu gọi nhân dân giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, tích cực chuẩn bị lực lượng, đứng về phe Ðồng minh chống phát-xít.
Nhận định của Ðảng dựa trên cơ sở phân tích khoa học và lý luận cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lê-nin một cách biện chứng, khách quan, toàn diện, toàn cục; thể hiện tư duy nhạy bén của Ðảng trong việc đánh giá thời cơ, đánh giá về so sánh lực lượng cách mạng giữa ta và địch, nắm vững quy luật vận động của chiến tranh; tính quy luật tất yếu có áp bức dân tộc, có đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc. Tuy nhiên, tầm vóc tư duy chiến lược của Ðảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện ở chỗ: Sớm nhìn thấy quy luật vận động cách mạng, dự báo thời cơ cách mạng, nhanh chóng triển khai thực hiện để thúc đẩy tiến trình cách mạng. Tức là không thụ động chờ thời cơ, mà tích cực, chủ động tiến hành đấu tranh cách mạng để tạo ra thời cơ cách mạng, mà nổi bật là chủ trương xây dựng các tổ chức Việt Minh, các đoàn thể yêu nước trên phạm vi cả nước. 
Ngày 9-3-1945, phát-xít Nhật đảo chính Pháp, kéo theo đó là tình trạng khủng hoảng chính trị ở Việt Nam. Ngay lập tức Ban Thường vụ Trung ương Ðảng đã họp và đưa ra những nhận định khách quan về thời cơ khởi nghĩa đang đến rất gần: "Những cơ hội tốt đang giúp cho những điều kiện khởi nghĩa mau chín muồi"; và ra Chỉ thị: "Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta". Ðảng quyết định phát động cao trào chống Nhật cứu nước.
Ðến tháng 7-1945, phát-xít Ðức, Ý đã bại trận trên chiến trường châu Âu. Ở châu Á, phát-xít Nhật đang trên đường thất bại và sụp đổ. Dù đang bị ốm giữa rừng Tân Trào, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn chỉ thị cho các đồng chí: "Lúc này thời cơ đã đến, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”.
Khi phát-xít Nhật đầu hàng Ðồng minh (13-8-1945), Ðảng ta khẳng định, tình thế cách mạng đã xuất hiện, đây là cơ hội giải phóng dân tộc ngàn năm có một: "Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta". Cả dân tộc theo tiếng gọi của Người, nhất tề đứng lên khởi nghĩa, chỉ trong chưa đầy nửa tháng, các địa phương trong cả nước đã giành thắng lợi.
Có thể khẳng định, thành công lớn nhất của nghệ thuật khởi nghĩa trong Cách mạng Tháng Tám: Ðảng ta đã chọn đúng thời cơ "nổ ra đúng lúc". Ðó là lúc 16 nghìn quân Anh chưa vào miền Nam và 200 nghìn quân Tưởng chưa vào miền Bắc để giải giáp quân Nhật; cũng là lúc quân Nhật bại trận mất tinh thần, ngồi chờ Ðồng minh đến tước vũ khí; ngụy quyền tay sai bỏ trốn hoặc đầu hàng chính quyền cách mạng. Chọn đúng thời cơ là một khoa học, là một nghệ thuật, nhờ thế sức mạnh của toàn dân ta được nhân lên gấp bội, tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước một cách nhanh, gọn, không đổ máu và thành công triệt để. 
2.3. Phát động tổng khởi nghĩa
Vào cuối năm 1944, đầu năm 1945, chiến tranh thế giới thứ hai bước vào giai đoạn kết thúc. Hồng quân Liên Xô quét sạch phát xít Đức ra khỏi lãnh thổ của mình và tiến như vũ bão về phía Béc lin. Phát xít Nhật lâm vào tình trạng nguy khốn. Mâu thuẫn Nhật – Pháp ngày càng gây gắt. Đêm 9-3-1945, Nhật đảo chính Pháp để độc chiếm Đông Dương, Pháp đầu hàng Nhật.
Ngay đêm 9-3-1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã họp và ra chỉ thị : “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta.”. Cao trào kháng Nhật là bước khởi đầu chuẩn bị cho cuộc tổng khởi nghĩa. Qua cao trào kháng Nhật, Đảng đã thu hút được hàng triệu triệu đồng bào cả nước tham gia, khí thế dân tộc đang dâng cao, đó cũng thích hợp để tiến hành tổng khởi nghĩa trong cả nước.
Chiến tranh thế giới thứ hai đang bước vào giai đoạn kết thúc. Ngày 2-5-1945, Hồng quân Liên Xô chiếm Béc lin, tiêu diệt phát xít Đức tận hang ổ của chúng. Ngày 9-5-1945, Đức đầu hàng vô điều kiện. Ở châu Á, phát xít Nhật đang đi gần đến chỗ thất bại hoàn toàn.
Trước sự phát trển hết sức nhanh chóng của tình hình, Trung ương quyết định họp Hội nghị toàn quốc tại Tân Trào (Tuyên Quang) và nhận định: “Cơ hội rất tốt cho ta giành chính quyền độc lập đã tới và phát động toàn dân tổng khởi nghĩa, giành chính quyền từ tay Nhật và tay sai trước khi quân Đồng minh vào Đông Dương”. Hội nghị chỉ rõ khẩu hiệu đấu tranh lúc này là “phản đối xâm lược”, “hoàn toàn độc lập”, “chính quyền nhân dân”. Những nguyên tắc để chỉ đạo khởi nghĩa là tập trung, thống nhất và kịp thời, phải đánh chiếm ngay những nơi chắc thắng, không kể thành phố hay nông thôn, chính trị và quân sự phải phối hợp, phải làm tan rã tinh thần quân địch,Hội nghị quyết định cử Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc do Trường Chinh phụ trách và kiện toàn Ban Chấp hành Trung ương.
Ngay đêm 13-8-1945, Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc ra lệnh tổng khởi nghĩa.
Ngày 16-8-1945, cũng tại Tân Trào, Đại hội Quốc dân họp, tán thành chủ trương tổng khởi nghĩa, quyết định thành lập Ủy ban giải phóng dân tộc Việt Nam. Ngay sau đó, Hồ Chí Minh gửi thư kêu gọi đồng bào, chiến sĩ cả nước: “Giờ khắc quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”. 
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, hơn 20 triệu nhân dân ta đã nhất tề vùng dậy khởi nghĩa giành chính quyền. Từ ngày 14-8-1945, các đơn vị giải phóng quân đã liên tiếp hạ nhiều đồn Nhật thuộc các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Yên Bái và hỗ trợ quần chúng nhân dân tiến lên giành chính quyền. Ngày 18-8-1945, nhân dân các tỉnh Bắc Giang, Hải Dương, Phúc Yên, Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Quảng Nam và Khánh Hòa giành chính quyền ở tỉnh lỵ.
Ngày 19-8-1945, dưới sự lãnh đạo của Thành ủy Hà Nội, hàng chục vạn quần chúng sau khi dự mít tinh, đã rầm rộ xuống đường biểu tình, tuần hành và mau chóng tỏa đi các hướng chiếm phủ Khâm sai, Tòa thị chính, Trại lính bảo an, Sở Cảnh sát và công sở của chính quyền bù nhìn. Trước khí thế áp đảo của quần chúng, hơn 1 vạn quân Nhật ở Hà Nội tê liệt, không dám chống cự. Chính quyền về tay nhân dân.
Ngày 23-8-1945, khởi nghĩa giành thắng lợi ở Huế. Ngày 25-8-1945, thắng lợi ở Sài Gòn. Chỉ trong vòng 15 ngày, cuộc tổng khởi nghĩa đã giành thắng lợi trên cả nước, chính quyền về tay nhân dân.
2.4. Kết quả, ý nghĩa của cách mạng tháng Tám
Thắng lợi của cách mạng tháng Tám đã đập tan xiềng xích nô lệ của thực dân Pháp xâm trong gần một thế kỷ, lật nhào chế độ quân chủ hàng mấy nghìn năm và ách thống trị của phát xít Nhật, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (2-9-1945). Nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ trở thành người dân của một nước độc lập, tự do, làm chủ vận mệnh của mình.
Thắng lợi của cách mạng tháng Tám đánh dấu bước phát triển nhảy vọt của lịch sử dân tộc Việt Nam, đưa dân tộc ta bước vào một kỷ nguyên mới: kỷ nguyên độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội.
Với thắng lợi này, Đảng và nhân dân ta đã góp phần làm phong phú thêm kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê nin, cung cấp thêm nhiều kinh nghiệm quý báu cho phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc và dành quyền dân chủ, cổ vũ mạnh mẽ nhân dân các nước thuộc địa và nửa thuộc địa đấu tranh chống đế quốc, chủ nghĩa thực dân giành độc lập dân tộc. Thành công của Cách mạng Tháng Tám 1945 chứng tỏ, Ðảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh có tầm nhìn vượt trước thời gian, xác định đúng thời cơ, cho nên đã chuẩn bị tốt lực lượng, sẵn sàng chủ động, chớp thời cơ lãnh đạo nhân dân ta đứng lên tổng khởi nghĩa giành thắng lợi. Ðây là sự vận dụng sáng tạo quy luật vận động phát triển của khởi nghĩa và cách mạng, khôn khéo trong nghệ thuật chỉ đạo chớp thời cơ, giành thắng lợi.
2.5. Vận dụng trong giai đoạn hiện nay 
 Mặc dù đã 70 năm đã trôi qua, nhưng những bài học kinh nghiệm quý báu của cách mạng tháng 

Tài liệu đính kèm:

  • docxtieu luan duong loi DCSVN_12242085.docx