Sáng kiến kinh nghiệm Một số phương pháp nâng cao chất lượng dạy - học môn Đạo đức lớp 1

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

Đề tài

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY - HỌC MÔN ĐẠO ĐỨC LỚP 1

A – LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Bác Hồ của chúng ta đã từng nói: “Người có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó. Người có tài mà không có đức thì vô dụng”

Vậy đạo đức là gì? Ta hiểu như thế nào là đạo đức? Đứng về phương diện triết học thì đạo đức là một hình thái ý thức của xã hội, bao gồm chuẩn mực xã hội, có tác dụng điều chỉnh hành vi của con người trong quan hệ với người khác, với xã hội.

Theo nhà giáo dục người Nga I- li –na: Đạo đức là cách ứng xử của người này đối với người khác, đối với xã hội.

Ta thấy vấn đề đạo đức đối với con người có vai trò rất quan trọng. Việc giáo dục đạo đức có vai trò quan trọng.

Ở lứa tuổi tuổi lớp Một nói riêng cũng như học sinh tiểu học nói nói chung, môn Đạo đức mang nội dung ý nghĩa của chuẩn mực hành vi đạo đức trong các hoạt động và mối quan hệ xã hội. Do đó môn đạo đức ngoài nhiệm vụ trau dồi kiến thức bước đầu về hành vi đạo đức nó là bước đầu của việc hình thành nhân cách của học sinh nói chung cũng như học sinh tiểu học nói riêng. Vấn đề cần đặt ra với đội ngũ nhà giáo, về vấn đề giáo dục đạo đức cho các em học sinh như thế nào để đạt được hiệu quả cao nhất đặc biệt là lứa tuổi học sinh lớp Một hiểu biết về vấn đề đạo đức gần như một tờ giấy trắng.

 

doc 22 trang Người đăng hanhnguyen.nt Ngày đăng 29/12/2020 Lượt xem 357Lượt tải 0 Download
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số phương pháp nâng cao chất lượng dạy - học môn Đạo đức lớp 1", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
 nhà trường. Đó là nhu cầu mong muốn thực hiện chính xác mọi yêu cầu của giáo viên về điểm tốt, về lĩnh hội cái mới, đảm nhận các trọng trách tập thể giao cho trong hệ thống nhu cầu của học sinh tiểu học, nhu cầu nhận thức nổi lên và giữ vai trò chủ đạo (ham hiểu biết). Các nhu cầu tinh thần chiếm ưu thế trong cuộc sống của trẻ. Trong nhu cầu của các em, một loạt hành vi đạo đức của các em được hình thành, một loạt hành vi thói quen được hình thành.
Như chúng ta đều biết, học sinh tiểu học có tính hồn nhiên, khả năng phát triển tính cách của trẻ tạo cơ sở cho khả năng phát triển một hệ thống tính cách của các em. Đặc điểm này nói lên rằng cái xuyên suốt trong tâm hồn của học sinh tiểu học là ngây thơ, trong trắng, hồn nhiên và ẩn chứa những tiềm năng phát triển lớn. Học sinh tiểu học cả tin tuyệt đối vào thầy cô, người lớn bạn bè, sách và cả bản thân mình nữa. Vì vậy mọi hoạt động trên lớp cũng như lời nói của giáo viên phải chính xác, mẫu mực để các em noi theo.
Ngoài ra ta còn thấy học sinh tiểu học có tính sẵn sàng hành động, khuynh hướng hành động ngay lập tức dưới tác động của các kích thích mà không kịp suy nghĩ, cân nhắc. Vì thế giáo viên cần hướng các em cách phân tích hành vi ứng xử trước một tình huống trước khi đưa ra quyết định cuối cùng.
Ở học sinh tiểu học ta còn thấy các em rất thật thà, các em không thích khoe khoang, không suy nghĩ đến điều phức tạp, thích bộc lộ nguyên dạng bản thân mình. Do đó giáo viên cần hướng dẫn các câu hỏi tình huống gắn gọn , chân thật gắn với cuộc sống hàng ngày.
Ngoài việc tìm hiểu học sinh, là giáo viên cần phải quan tâm hàng ngày và phải đề ra những phương pháp và kỹ năng như thế nào để dạy cho các em nắm được các hành vi ứng xử đạo đức của các em đem lại kết quả cao.
Từ những thuận lợi và khó khăn qua tôi đã đề ra các biện pháp để thực hiện dạy học môn Đạo đức hiệu quả hơn.
2. Xây dựng kế hoạch :
2.1/ Xây dựng kế hoạch phân loại học sinh:
Muốn giáo dục được tất cả học sinh, giáo viên cần phân loại học sinh để có phương pháp cho phù hợp. Tôi nhận thấy nguyên nhân các em chưa nắm rõ các hành vi trong ứng xử là do các em chưa được qua trường lớp hay chưa được cha mẹ quan tâm, giáo dục thường xuyên. Để khắc phục tình trạng trên của các em do lớp tôi phụ trách tôi đã phân đối tượng học sinh như sau:
+ Nhanh nhẹn, biết ứng xử tình huống nhạy bén: 7 em
+ Nhanh nhẹn, ứng xử tình huống chưa nhạy bén: 4 em
+ Chậm biết ứng xử tình huống: 4 em
+ Chậm không biết ứng xử: 12 em
Từng bước hình thành thái độ tự trọng tự tin, yêu thương tôn trọng con người, yêu cái thiện, cái đúng, cái tốt; không đồng tình với cái ác, cái sai, cái xấu.
2.2/ Nâng cao phương pháp dạy đạo đức:
Nắm vững các phương pháp dạy học đạo đức cho học sinh, giáo viên có thể vận dụng linh hoạt các phương pháp cho một bài học cụ thể để phù hợp với đối tượng học sinh của lớp mình. Giáo viên có thể kết hợp linh hoạt các phương pháp dạy học sau:
w Phương pháp động não: Động não là phương pháp giúp cho học sinh trong một thời gian ngắn nảy sinh được nhiều ý tưởng, nhiều giả định về một vấn đề nào đó.
w Phương pháp đóng vai: Đóng vai là phương pháp tổ chức cho học sinh thực hành một số cách ứng xử nào đó trong một tình huống giả định.
w Phương pháp trò chơi: Phương pháp trò chơi là phương pháp giúp học sinh phát hiện và chiếm lĩnh những nội dung học tập thông qua việc chơi một trò chơi nào đó.
w Phương pháp kể chuyện: Dạy học đạo đức có thể bắt đầu bằng một truyện kể đạo đức. Truyện kể về cách ứng xử của nhân vật trong một tình huống cụ thể. Từ đó giáo viên hướng dẫn học sinh phân tích, khái quát thành chuẩn mực hành vi đạo đức các em cần nắm và thực hiện.
2.3/ Quy trình dạy một tiết Đạo đức:
Muốn có một tiết đạo đức nhẹ nhàng, giúp học sinh có thể tiếp thu kiến thức một cách vững vàng. Giáo viên cần thiết kế một quy trình cụ thể cho từng bài học. Tùy vào nội dung từng bài, số lượng bài tập trong vở Bài tập Đạo đức mà giáo viên lên kế hoạch cho từng hoạt động của bài dạy. Bài dạy đó phải phù hợp với đối mọi tượng học sinh cụ thể của lớp mình đang phụ trách, để sau bài học học sinh có thể nắm bài đạt hiệu quả cao nhất.
3/ Trang bị hướng dẫn từng phần kiến thức cho học sinh:
3.1/ Giới thiệu sách:
- Muốn cho học sinh nắm được chương trình nội dung của môn học. Giáo viên phải giới thiệu sách và sách học cho học sinh.
- Sách giáo khoa Đạo đức lớp một không chỉ có vở bài tập đạo đức lớp Một, giúp các em thực hiện các hoạt động ở trên lớp.
- Vở bài tập đạo đức 1 có các dạng bài tập chính sau:
 + Quan sát và kể chuyện theo tranh.
 + Nhận xét về hành vi của các nhân của các nhân vật trong tranh.
 + Xử lý tình huống.
 + Đóng vai.
 + Chơi trò chơi.
 + Liên hệ thực tế.
 + Múa hát, đọc thơ, kể chuyện, diễn kịch, tô màu tranh, vẽ tranh, đánh dấu, chèn vào tranh vẽ chủ đề bài học.
Các em cần chú ý lắng nghe thầy cô hướng dẫn cách làm mỗi dạng bài tập cụ thể để thực hiện bài tập một cách tốt nhất.
3.2/ Giới thiệu về chương trình học của các em: 
- Một năm có 35 tiết, 1 tuần có 1 tiết
 + Có 14 bài trong chương trình, 1 bài dạy 2 tiết.
 + Có 4 bài ôn tập và thực hành kỹ năng giữa học kỳ và cuối học kỳ.
 + Có 3 bài dành riêng cho địa phương.
II/ TỪNG BƯỚC THỰC HIỆN KẾ HOẠCH:
1/ Đối với học sinh:
1.1/ Nắm được các kiến thức cơ bản:
Muốn có kết quả học tập môn Đạo đức thì giáo viên cần trang bị cho các em thật vững những kiến thức cơ bản về chuẩn mực hành vi đạo đức. Vì có nắm vững được các kiến thức về chuẩn mực hành vi đạo đức thì các em mới hiểu được các hành vi đạo đức đó là có lợi hay có hại cho bản thân, người xung quanh, xã hội, môi trường tự nhiên. Đó là kỹ năng nhận xét về một số chuẩn mực hành vi đạo đức và pháp luật về phù hợp lứa tuổi trong các mối quan hệ của các em với bản thân, gia đình, nhà trường, cộng đồng, môi trường tự nhiên và ý nghĩa của việc thực hiện theo các chuẩn mực đó. Cụ thể:
- Trẻ em có quyền có tên và có quyền được đi học. Vào lớp một em có thêm nhiều bạn mới, có thầy cô giáo mới, em sẽ được học nhiều điều mới lạ. 
- Hiểu thế nào là ăn mặc gọn gàng, sạch sẽ, ích lợi của việc ăn mặc gọn gàng sạch sẽ.
- Hiểu cách giữ gìn sách vơ û và đồ dùng học tập.
- Hiểu trẻ có quyền có gia đình, có cha mẹ, được cha mẹ yêu thương, chăm sóc. Trẻ em có bổn phận phải lễ phép , vâng lời ông bà, cha mẹ, anh chị.
- Hiểu đối với anh chị cần lễ phép , đối với em nhỏ cần nhường nhịn; như vậy anh chị em mới hoà thuận, cha mẹ mới vui lòng.
- Trẻ em có quyền có quốc tịch. Quốc kỳ Việt Nam là lá cờ đỏ ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh. Quốc kỳ tượng trưng cho đất nước, cần phải trân trọng, giữ gìn.
- Hiểu ích lợi của việc đi học đều và đúng giờ, học sinh thực hiện đi học đều và đúng giờ.
- Hiểu cần phải giữ trật tự trong giờ học và khi ra, vào lớp.
- Hiểu thầy cô giáo là những người không quản khó nhọc, chăm sóc, dạy dỗ em. Vì vậy các em cần phải lễ phép, vâng lời thầy cô giáo.
- Hiểu trẻ em có quyền được học tập, vui chơi; có quyền giao kết bạn bè. Cần phải đoàn kết, thân ái với bạn bè khi học và khi chơi.
- Hiểu cách đi bộ đúng qui định là đi bộ trên vỉa hè, nếu đường không có vỉa hè phải đi sát lề đường. Qua ngã ba, ngã tư cần đi theo tín hiệu đèn, đi vào vạch qui định và phải có người lớn dẫn qua.
- Hiểu khi nào cần nói lời cảm ơn, khi nào cần nói lời xin lỗi. Vì sao cần nói lời cảm ơn, xin lỗi. Trẻ em có quyền được tôn trọng, được đối xử công bằng.
- Hiểu cần phải chào hỏi khi gặp gỡ, tạm biệt, chia tay. Cách chào hỏi, tạm biệt, ý nghĩa của lời chào hỏi, tạm biệt.
- Hiểu ích lợi của cây và hoa nơi công cộng đối với cuộc sống con người. Cách bảo vẹ cây và hoa nơi công cộng.
1.2/ Hình thành cho học sinh các kỹ năng:
Muốn cho học sinh có thể ứng xử tốt trước mọi tình huống cụ thể, giáo viên cần từng bước giúp cho học sinh phân tích, nhận xét, đánh giá từng hành vi đạo đức các em được học qua mỗi bài. Từ đó hình thành cho học sinh các kỹ năng. Đó là kỹ năng nhận xét, đánh giá hành vi của bản thân và những người xung quanh theo chuẩn mực đã học, kỹ năng lựa chọn và thực hiện các hành vi ứng xử phù hợp các chuẩn mực, các quan hệ và tình huống đơn giản, cụ thể của cuộc sống, biết nhắc nhở bạn bè cùng thực hiện. Cụ thể:
- Biết đánh giá sự chuẩn bị của mình cho việc đi học.
- Biết giữ gìn vêï sinh cá nhân, đầu tóc quần áo gọn gàng, sạch sẽ.
- Biết yêu quí và giữ gìn sách vở, đồ dùng học tập.
- Biết yêu quí gia đình mình. Yêu thương kính trọng ông bà, cha mẹ, anh chị em.
- Biết cư xử lễ phép với anh chị, nhường nhịn em nhỏ trong gia đình.
- Biết tự hào mình là người Việt Nam, tôn kính Quốc kỳ và yêu quí Tổ quốc Việt Nam.
- Biết đánh giá, nhận xét về việc đi học đúng giờ và trễ giờ.
- Biết ý thức giữ trật tự khi ra, vào lớp và khi ngồi học.
- Biết đánh giá hành vi lễ phép, vâng lời thầy, cô giáo.
- Biết nhận xét, đánh giá hành vi của bản thân, của người khác khi học và khi chơi với bạn. Hành vi ứng xử với bạn khi học và khi chơi.
- Biết thực hiện đi bộ đúng qui định.
- Biết nói lời cảm ơn, xin lỗi trong các tình huống giao tiếp hàng ngày.
- Biết tôn trọng, lễ độ với mọi người, quí trọng những bạn biết chào hỏi, tạm biệt đúng.
- Biết bảo vệ cây và hoa nơi công cộng.
1.3/ Giáo dục học sinh từng bước hình thành thái độ:
Muốn kết quả giáo dục Đạo đức được như ý muốn, sau mỗi chuẩn mực, hành vi đạo đức, giáo viên cần liên hệ, giáo dục các em biết lắng nghe ý kiến đưa ra của học sinh, khuyến khích tinh thần tự học hỏi vươn lên của học sinh. Uốn nắn kịp thời những gì không phù hợp với các chuẩn mực hành vi đạo đức các em đã học. Từ đó hình thành ở học sinh thái độ tự trọng, tự tin, yêu thương, tôn trọng con người, yêu cái thiện, cái đúng, cái tốt; không đồng tình với cái ác, cái sai, cái xấu. Cụ thể đối với học sinh lớp Một:
- Biết yêu quí bạn bè, thầy cô giáo trong lớp.
- Có thói quen ăn mặc gọn gàng, sạch sẽ.
- Có thói quen giữ gìn sách vở và đồ dùng học tập.
- Quí trọng, yêu thương ông bà, cha mẹ, anh chị em.
- Luôn lễ phép với anh chị, nhường nhịn em nhỏ hơn mình.
- Có kỹ năng nhận biết sờ Tổ quốc, phân biệt tư thế chào cờ đúng và tư thế sai. - Biết nghiêm trang trong các giờ chào cờ đầu tuần.
- Có thói quen đi học đều và đúng giờ.
- Có ý thức trật tự trong và ngoài giờ học.
- Có ý thức vâng lời, lễ phép với thầy cô giáo.
- Biết cư xử tốt với bạn bè khi học và khi chơi.
- Có ý thức tuân theo qui định đối với người đi bộ.
- Có thói quen biết cảm ơn khi người khác giúp và xin lỗi khi làm phiền người khác.
- Tôn trọng, lễ độ với mọi người, quí trọng bạn bè khi biết chào hỏi, tạm bệt đúng.
- Có ý thức chăm sóc cây và bảo vệ cây, hoa nơi công cộng.
2/ Đối với giáo viên:
Để nâng cao chất lượng môn Đạo đức, tôi thường xuyên dự giờ, thăm lớp của các bạn đồng nghiệp để tìm ra cái mới lạ, cái hay, các phương pháp hay để bổ sung cho tiết dạy của mình được phong phú hơn.
Đạo đức là một môn học vừa có tính chất lý thuyết, vừa có tính chất thực hành. Môn Đạo đức còn góp phần quan trọng vào việc rèn luyện và hình thành tính cách cho học sinh, làm cho các em có những phẩm chất tốt như gọn gàng, sạch sẽ, chăm ngoan, lễ phép.
Đạo đức là một môn có tầm quan trọng đặc biệt ở Tiểu học, nhất là học sinh lớp Một, môn Đạo đức là cội nguồn phát triển tính cách của học sinh. Học sinh có nắm tốt được các kỹ năng, hành vi đạo đức thì các em mới có thể tập trung tốt cho các môn học khác, dẫn đến kết quả học tập sẽ cao hơn.
Để chuẩn bị tiết lên lớp, tôi làm kế hoạch bài dạy. Kế hoạch bài dạy viết ngắn gọn, sáng sủa, dễ điều chỉnh, nêu rõ các hoạt động cụ thể. Mỗi kế hoạch bài dạy, tôi thực hiện đầy đủ các bước lên lớp và kết hợp các phương pháp, hình thức phù hợp với tình hình của lớp. Tôi sử dụng các phương pháp dạy học sau:
2.1/ Phương pháp động não:
- Tôi nêu vấn đề cần tìm hiểu trước lớp hoặc trước nhóm.
- Khích lệ học sinh phát biểu ý kiến càng nhiều càng tốt.
- Liên hệ các ý kiến học sinh phát triển, không loại trừ một ý kiến nào, trừ trường hợp trùng lặp.
w Phân loại các ý kiến:
- Làm sáng tỏ các ý kiến chưa rõ ràng và thảo luận sâu từng ý.
- Tổng hợp ý kiến học sinh, hỏi xem có em nào thắc mắc hoặc bổ sung gì không.
- Cuối giờ thảo luận, tôi nhấn mạnh kết luận: “ Đây là kết quả của sự tham gia chung của tất cả các bạn ở lớp ta”.
â VD: Trong bài: “Đi học đều và đúng giờ”, tôi đưa ra các câu hỏi cho cả lớp thảo luận: Đi học đều và đúng giờ có lợi gì?
- Các em đưa ra ý kiến: Thực hiện tốt qui định của nhà trường, không làm mất thời gian của cô giáo và các bạn, học được đầy đủ bài, không làm mất trật tự trong giờ học, biết vâng lời cô giáo
- Tôi viết tất cả các ý kiến của các em lên bảng.
- Hỏi các em: Tại sao bạn lại trả lời như vậy?
- Tôi tổng hợp lại: Đi học đầy đủ và đúng giờ là các em đã biết vâng lời cô, thực hiện tốt qui định của nhà trường; đi học đều sẽ không bị mất bài, được nghe cô giảng bài; đến trễ sẽ làm mất thời gian cô giảng bài cho các bạn, làm lớp học đang chăm chú tìm hiểu bài phải ngừng lại vì bạn đến trễ. Đây là tất các ý kiến của cả lớp đưa ra. Nếu các em đã biết ích lợi của việc đi học đều và đúng giờ, cô mong bạn nào cũng thực hiện tốt.
2.2/ Phương pháp đóng vai:
- Trước hết tôi chia nhóm, giao nhiệm vụ đóng vai cho từng nhóm và qui định thời gian chuẩn bị.
- Các nhóm thảo luận, chuẩn bị đóng vai.
- Các nhóm lên đóng vai.
- Lớp thảo luận, nhận xét về cách ứng xử của các vai diễn theo gợi ý của giáo viên: Đã phù hợp chưa? Chưa phù hợp ở chỗ nào? Khi thực hiện cách ứng xử trong vai mình đã đóng em cảm thấy như thế nào? Nếu em gặp cách ứng xử như vậy (đúng hoặc sai), em sẽ làm gì?
- Tôi chốt lại cách ứng xử trong tình huống.
â VD: Trong bài “Lễ phép, vâng lời thầy cô giáo”. Tôi đưa ra nhiệm vụ: đóng vai học sinh mang vở lên nộp bài cho cô giáo.
- Các nhóm thảo luận cách đóng vai và phân công người lên đóng vai cô giáo.
- Các nhóm lên đóng vai.
- Lớp thảo luận, nhận xét theo gợi ý của giáo viên: Các bạn đóng vai như vậy đã phù hợp chưa? Khi đóng vai (cô giáo hoặc bạn học sinh) em cảm thấy như thế nào?
- Tôi chốt lại ý kiến kết luận: Các em biết đóng vai tình huống như vậy là rất tốt. Các em nên nhớ rằng khi đưa một vật gì cho thầy cô giáo hoặc người lớn tuổi hơn các em thì các em phải đưa bằng hai tay để tỏ lòng kính trọng, lễ phép của mình.
2.3/ Phương pháp trò chơi:
Cùng với học, chơi là nhu cầu không thể thiếu được của học sinh tiểu học. Dù không phải là hoạt động chủ đạo song vui chơi vẫn giữ vai trò rất quan trọng trong hoạt động sống của các em, nó có một ý nghĩa lớn lao đối với các em. Lý luận và thực tiễn đã chứng minh rằng nếu biết tổ chức cho trẻ vui chơi một cách hợp lý và đúng đắn thì đều mang lại hiệu quả giáo dục cao.
Qua trò chơi, trẻ không những phát triển về mặt trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ mà còn hình thành nhiều phẩm chất và hành vi đạo đức, chính vì vậy trò chơi được sử dụng trong tiết học Đạo đức là một phương pháp dạy học quan trọng để giáo dục hành vi đạo đức cho học sinh. Cụ thể là:
- Nội dung trò chơi sẽ minh họa một cách sinh động cho mẫu các hành vi đạo đức. Nhờ vậy những mẫu hành vi này sẽ tạo được những biểu tượng rõ rệt ở học sinh, giúp các em ghi nhớ rõ ràng và bền lâu.
- Qua trò chơi, học sinh được luyện tập các kỹ năng, những thao tác hành vi đạo đức được thể hiện một cách tự nhiên.
- Qua trò chơi, học sinh có cơ hội để thể nghiệm những chuẩn mực hành vi; chính sự thể nghiệm này sẽ hình thành được ở học sinh niềm tin về những chuẩn mực hành vi đã học, tạo ra động cơ bên trong cho hành vi ứng xử trong cuộc sống.
- Qua trò chơi, học sinh sẽ rèn luyện khả năng biết lựa chọn cho mình cách ứng xử đúng đắn, phù hợp trong cuộc sống.
- Qua trò chơi, học sinh hình thành năng lực quan sát, được rèn luyện kỹ năng nhận xét, biết đánh giá hành vi của người khác là phù hợp hay không phù hợp với chuẩn mực đạo đức của xã hội.
- Bằng trò chơi, việc luyện tập hành vi đạo đức được tiến hành một cách nhẹ nhàng, sinh động; không khó khăn, nhàm chán. Học sinh được lôi cuốn vào quá trình luyện tập một cách tự nhiên, hứng thú và có tinh thần trách nhiệm; đồng thời giải tỏa được các mệt mỏi, căng thảng.
Để tổ chức trò chơi có kết quả, tôi tìm trò chơi để tổ chức và thực hiện sao cho phù hợp với chủ đề bài học, với đặc điểm và trình độ học sinh trong lớp. Sau đó, tôi chuẩn bị các đồ dùng dạy học cần thiết cho trò chơi; lập kế hoạch tổ chức trò chơi và tiến hành cho học sinh chơi.
- Nêu tên trò chơi.
- Hướng dẫn cách chơi.
- Cho học sinh chơi thử.
- Tổ chức cho học sinh chơi.
â VD: Trong bài “Ôn tập và thực hành kỹ năng giữa học kỳ I”.
Tôi tổ chức cho các em chơi trò chơi “ Hái hoa dân chủ”. Tôi dùng một cây gắn nhiều hoa, trong mỗi hoa đều có một câu hỏi về chuẩn mực hành vi đạo đức hay thực hành một hành vi đạo đức nào đó.
Tôi hướng dẫn các em hình thành các nhóm thi đua, nhóm nào trả lời được nhiều câu hỏi hay hành vi đạo đức thì nhóm đó sẽ thắng.
- Tôi hướng dẫn các em cách chơi.
- Tổ chức cho học sinh chơi
- Lớp nhận xét tuyên dương
- Tôi kết luận về các chuẩn mực hành vi các em đã thực hiện đúng.
Ngoài trò chơi “Hái hoa dân chủ” tôi còn tổ chức cho học sinh chơi một số trò chơi khác như sau:
v Trò chơi “Vòng tròn chào hỏi”
w Mục đích: Trò chơi này là củng cố việc hình thành thái độ vâng lời, lễ phép của học sinh đối với người lớn tuổi.
w Cách chơi: Giáo viên cho học sinh đứng thành vòng tròn, sau lưng mỗi em sẽ có tên một nhân vật có tuổi lớn hơn học sinh (cô giáo, anh năm, bác tư, bà sáu .). Đầu tiên, giáo viên cho học sinh đóng vai bạn học sinh, những bạn khác khi được bạn học sinh mời đóng vai thì bạn đó đưa bông hoa quay về đằng trước, hai bạn chào nhau. Bạn vừa được mời đóng vai lại có quyền mời bạn khác cứ như thế cho hết vòng tròn.
w Kết quả đạt được: Sau trò chơi các em biết cách ứng xử chào hỏi khi gặp người lớn tuổi hơn mình.
v Trò chơi “Nếu thì”
w Mục đích: Ôn lại các kiến thức đã học
w Cách chơi: Giáoviên cho từng cặp học sinh nói với nhau về một vấn đề gì đó theo cách nói câu “Nếu thì”Ví dụ: “Nếu tôi nói chuyện thì tôi không hiểu bài”, “Nếu tôi nói chuyện thì tôi không nghe được cô giảng bài”..v vCác dãy thi đua với nhau, dãy nào nói được nhiều câu thì dãy đó sẽ thắng.
w Kết quả: Các em đã hiểu được các hành vi chuẩn mực đạo đức làm thế nào là tốt, làm thế nào là không tốt từ đó học sinh có cách ứng xử phù hợp.
v Trò chơi: Xem tranh 
w Mục tiêu: Học sinh phân biệt được việc làm nào có lợi, việc làm nào không có lợi; từ đó có cách làm phù hợp trong trường hợp tương tự.
w Cách chơi: Ví dụ: Khi học bài “Bảo vệ cây và nơi công cộng”. Tôi có những tấm tranh vẽ về học sinh tưới cây, nhổ cỏ, vun gốc, bẻ cành, trèo cây, hái hoa tôi cho học sinh hát và truyền tấm tranh đó. Khi dứt bài hát bạn nào cầm được tấm tranh sẽ cài lên hai bên theo yêu cầu: NÊN – KHÔNG NÊN. Sau đó cả lớp theo dõi, nhận xét, giáo viên nhận xét kết luận và giáo dục.
w Kết quả: Học sinh đã biết cách chăm sóc và bảo vệ cây và hoa.
2.4/ Phương pháp thảo luận nhóm:
Để thực hiện tốt phương pháp này tôi thực hiện như sau:
- Tôi chia nhóm, giao nhiệm vụ, quy định thời gian thảo luận và phân công vị trí cho người thảo luận cho nhóm.
- Các nhóm tiến hành thảo luận.
- Đại diện từng nhóm trình bày. Cả lớp trao đổi bổ sung
- Tôi tổng kết lại các ý kiến.
â Ví dụ: Trong bài “Trật tự trường học”.
	- Tôi chia lớp thành 2 dãy, mỗi dãy lại chia thành các nhóm 4 em, các nhóm có nhiệm vụ quan sát tranh 1 hoặc 2 trong vở Bài tập Đạo đức trang 26 và thảo luận việc ra vào lớp của các bạn trong tranh.
- Các nhóm của dãy A thảo luận tranh số 1, các nhóm của dãy B thảo luận tranh số 2.
Dãy A	Dãy B
- Đại diện các nhóm trình bày kết quả thảo luận các nhóm khác nhận xét bổ sung.
- Cả lớp trao đổi tranh luận: Em có suy nghĩ gì về việc làm của bạn trong tranh 2. Nếu em có mặt ở đó em sẽ làm gì?
- Sau khi học sinh tranh luận và phát biểu. Tôi kết luận lại: Khi ra vào lớp, các em phải xếp hàng và đi theo thứ tự, không chen lấn xô đẩy khi ra vào lớp làm ồn ào mất trật tự và có thể gây ra vấp ngã. Cô mong rằng các em đã nhận thấy lợi ích của việc xếp hàng trật tự ra vào lớp, cô mong các em thực hiện tốt.
2.5/ Phương pháp kể chuyện:
Dạy đạo đức ở lớp Một có thể bắt đầu bằng truyện kể đạo đức, truyện kể về cách ứng xử của nhân vật trong tình huống cụ thể, thường là gương tốt để từ đó giáo viên hướng dẫn học sinh phân tích, khái quát thành chuẩn mực hành vi đạo đức các em cần thực hiện. Phương pháp kể chuyện rất phù hợp với học sinh lớp Một . Nó giúp cho bài học đạo đức đến với trẻ một cách tự nhiên, nhẹ nhàng, sống động.
Để câu chuyện kể lôi cuốn được học sinh, tôi lựa chọn câu chuyện sát với chủ đề bài học trong một tình huống cụ thể. Tôi nắm thật vững nội dung câu chuyện , nhập tâm vào câu chuyện. Khi kể, tôi nhấn mạnh vào chi tiết chủ yếu của truyện, giọng kể khoan thai, rõ ràng, truyền cảmTrong khi kể, tôi kết hợp vừa sử dụng tranh hoặc làm điệu bộ hay biểu diễn minh họa.
â Ví dụ: Khi dạy bài “Lễ phép với anh chị, nhường nhịn em nhỏ”
Không như thường lệ, tôi không giới thiệu bài mới ngay mà tôi hỏi học sinh: Các em có thích nghe cô kể chuyện cho các em nghe không? Hôm qua chủ nhật ở nhà cô sưu tầm được mẩu chuyện, cô nghĩ rằng em nào cũng thích nghe. Nhưng trước khi kể cô muốn sau khi nghe chuyện này, các em cho cô biết câu chuyện muốn nói với các em điều gì được không? Khi tôi dứt lời, cả lớp đồng thanh: Thưa cô chúng em đồng ý! Tôi bắt đầu kể cho các em nghe câu chuyện “Hai chị em”
Sau khi xong, tôi hỏi: Lúc đầu Hà lấy túi màu gì? (màu xanh). Em Thúy có thích túi màu xanh không? (Không, Thuý thích túi màu đỏ). Thúy nói gì với Hà? (Chị đổi cho em cái túi đỏ với). Hà có đổi cho em không? (Hà không đổi). Hà Không đổi em Thúy làm sao? (Thuý khóc). Nhìn thấy em khóc Hà thấy thế nào? (Hà thương em quá). Thương em Hà đã làm gì? (Hà đưa túi màu đỏ cho em). Hiểu ra câu chuyện Thúy làm gì? (Đến bá cổ chị). Qua truyện này muốn nói chúng ta điều gì? (Là anh chị cần nhường nhịn em nhỏ). Từ đó tôi mới giới thiệu bài học hôm nay “Lễ phép anh chị, nhường nhịn em nhỏ”
Vận dụng các phương pháp nhuần nhuyễn, kết hợp nhiều phương pháp tránh nhàm chán ở các em.
Cần đánh giá công bằng, chính xác việc học tập của các em. Tôi luôn là người hướng dẫn tổ chức các hoạt động học tập của các em qua ngôn ngữ nói và hoạt

Tài liệu đính kèm:

  • docSáng kiến kinh nghiệm - Một số phương pháp nâng cao chất lượng dạy - học môn Đạo đức lớp 1.doc